Bản án 35/2020/HS-ST ngày 06/05/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 35/2020/HS-ST NGÀY 06/05/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 06 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2020/TLST- HS ngày 24 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:

36/2020/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Việt T, sinh năm 1989; tại: thành phố G, Kiên Giang.

Nơi đăng ký HKTT: Số 228 đường T, phường Q, thành phố G, tỉnh Kiên Giang. Chỗ ở: Sống lang thang.

Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Huỳnh Thị M; bị cáo có vợ là Danh Thị X và có 02 con (lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2010).

Tiền sự:

- Ngày 27/9/2019, bị Công an phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hiện chưa chấp hành nộp phạt. - Ngày 08/11/2019, bị Công an thành phố Rạch Giá xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, hiện chưa chấp hành nộp phạt.

- Ngày 11/11/2019, bị Công an phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hiện chưa chấp hành nộp phạt.

- Ngày 12/11/2019, bị Công an phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, hiện chưa chấp hành nộp phạt.

Tiền án: Chưa.

Ngày 22/11/2019, có hành vi trộm cắp tài sản, bị bắt quả tang. Ngày 06/12/2019 bị bắt tạm giam theo Lệnh số 80, ngày 02/12/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Rạch Giá. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Rạch Giá.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Danh D, sinh năm 1977 (vắng mặt) Địa chỉ: Lô 11 Căn 12 hẻm 90 đường K, phường Q, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

* Người làm chứng:

- Danh Quốc C, sinh năm: 1992 (vắng mặt) Địa chỉ: B13 khu B, phường Q, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

- Nguyễn Hữu L, sinh năm: 1962 (vắng mặt) Địa chỉ: Số 170 đường T, phường Q, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

- Nguyễn Bá N, sinh năm: 1963 (vắng mặt) Địa chỉ: khu phố T, phường Q, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Việt T là người nghiện ma túy, có nhiều tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và trộm cắp tài sản. Để có tiền sử dụng ma túy, T nảy sinh ý định đi tìm tài sản sơ hở trộm cắp bán lấy tiền. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 22/11/2019, T đi đến khu lấn biển B, thuộc phường Q để tìm tài sản lấy trộm. Khi đi đến trước nhà số B13 khu lấn biển B, T thấy dưới một cái hố nhỏ bằng xi măng có một cái mô tơ điện dùng để bơm nước của anh Danh D dùng để bơm nước cho công trình xây dựng. Lúc này, quan sát xung quanh thấy không có người trông coi, T liền tìm nhặt được 01 (một) cây tua vít và 01 (một) khúc kim loại đi đến nạy phá nắp hố. Khi vừa lấy được mô tơ đem lên thì T bị anh Nguyễn Hữu L, Nguyễn Bá N và Danh Quốc C phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Tại Công an phường Q, Nguyễn Việt T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đến ngày 02/12/2019, Nguyễn Việt T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố, ra lệnh bắt tạm giam để điều tra. (Bút lục số 51, 52, 59, 61, 62, 63, 64) Quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

* Việc thu giữ và xử lý vật chứng:

- 01 (một) mô tơ bơm nước nhãn hiệu Forerun màu xanh, công suất 1.5KW, 2HP đã qua sử dụng; Cơ quan điều tra đã trao trả lại cho chủ sở hữu là ông Danh D.

- 01 (một) cây tua vít mũi bằng kim loại, dẹp, cán bằng nhựa dài 09 cm;

- 01 (một) khúc kim loại phi 6, dài 11 cm. (Bút lục số 66) * Tại bản kết luận định giá tài sản số: 184/KL-TCKH ngày 28/11/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Rạch Giá, kết luận giá trị tài sản mất trộm ngày 22/11/2019:

- 01 (một) mô tơ bơm nước màu xanh, nhãn hiệu Forerun MJSW/3BL, công suất 1.5KW, 2HP đã qua sử dụng, có giá trị là: 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) (Bút lục số 17) Quá trình điều tra, truy tố bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá nêu trên.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Danh D đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.

* Bản cáo trạng số: 48/CT-VKS ngày 21 tháng 02 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Việt T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa:

- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thống nhất kết quả định giá tài sản và không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. - Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị xử phạt bị cáo T mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tuyên tịch thu tiêu hủy dụng cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội gồm: 01 (một) cây tua vít mũi bằng kim loại, dẹp, cán bằng nhựa dài 09 cm; 01 (một) khúc kim loại phi 6, dài 11 cm.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác;

nên không đề nghị xem xét.

* Lời nói sau cùng của bị cáo T: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhận thức hành vi của mình là sai trái, cảm thấy ăn năn, hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Việt T đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của ông Danh D. Xét lời khai nhận của bị cáo đúng theo nội dung kết luận điều tra, nội dung bản cáo trạng; đồng thời phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, kết luận định giá cùng với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án; đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo Nguyễn Việt T là đối tượng nghiện ma túy, do cần tiền sử dụng ma túy nên vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 22/11/2019, tại trước nhà số B13 khu lấn biển B, thuộc phường Q, thành phố G, bị cáo Nguyễn Việt T đã lén lút thực hiện hành vi lấy trộm 01 (một) mô tơ điện màu xanh, nhãn hiệu Forerun MJSW/3BL, công suất 1.5 KW, 2 HP của ông Danh D thì bị phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng; theo kết quả định giá, giá trị tài sản bị cáo trộm cắp được nêu trên là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng). Ngoài ra, kết quả điều tra xác định được trước đó bị cáo đã có 04 tiền sự đều chưa chấp hành quyết định xử phạt, trong đó có 02 tiền sự về hành vi Trộm cắp tài sản.

Như vậy, bị cáo Nguyễn Việt T đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản lại tiếp tục thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản của ông Danh D trị giá 1.200.000 đồng, nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và hình phạt được quy định là “……bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy bị cáo T là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được trộm cắp tài sản là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng do lười lao động lại muốn có tiền để sử dụng ma túy nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, thiếu cảnh giác của người bị hại, lén lút thực hiện hành vi trộm cắp nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an địa phương; bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện ma túy và có nhiều tiền sự, đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng đến nay đều chưa chấp hành quyết định xử phạt lại tiếp tục thực hiện cùng hành vi chiếm đoạt tài sản, qua đó thấy được bị cáo không nhận thức được hành vi sai trái, thể hiện ý thức xem thường, bất chấp pháp luật; do đó cần xem xét để quyết định hình phạt cho phù hợp, nhằm đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; hành vi phạm tội của bị cáo chưa gây thiệt hại lớn, tài sản trộm cắp đã thu hồi trả lại cho bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng cho bị cáo các tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình.

Xét các chứng cứ buộc tội và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đối với việc giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật. Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo; sau khi nghị án Hội đồng xét xử thống nhất xử phạt bị cáo Nguyễn Việt T hình phạt tù có thời hạn, giam giữ bị cáo trong một thời gian nhất định để giáo dục, răn đe, cải tạo bị cáo, qua đó đảm bảo được tính phòng ngừa chung trong xã hội.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) mô tơ bơm nước nhãn hiệu Forerun màu xanh, công suất 1.5KW, 2HP đã qua sử dụng; Cơ quan điều tra đã trao trả lại cho chủ sở hữu là ông Danh D, không ai có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 (một) cây tua vít mũi bằng kim loại, dẹp, cán bằng nhựa dài 09 cm;

01 (một) khúc kim loại phi 6, dài 11 cm là dụng cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội;

Hội đồng xét xử thống nhất xử tịch thu tiêu hủy theo quy định pháp luật.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Danh D đã nhận lại tài sản bị lấy trộm và không có yêu cầu gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt T 09 (Chín) tháng tù; thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 06/12/2019).

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; xử:

Tịch thu tiêu hủy: + 01 (một) cây tua vít mũi bằng kim loại, dẹp, cán bằng nhựa dài 09 cm.

+ 01 (một) khúc kim loại phi 6, dài 11 cm. (Theo Quyết định chuyển vật chứng số: 30/QĐ-VKS ngày 21/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá) - Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

Buộc bị cáo Nguyễn Việt T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (06/5/2020); người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


11
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 35/2020/HS-ST ngày 06/05/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:35/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Rạch Giá - Kiên Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:06/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về