Bản án 35/2020/HS-PT ngày 24/02/2020 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 35/2020/HS-PT NGÀY 24/02/2020 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 24 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 79/2020/HSPT ngày 02/01/2020. Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 93/2019/HS-ST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Đà Nẵng. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 270/QĐXXPT ngày 03 tháng 02 năm 2020.

Bị cáo kháng cáo:

Vũ B, sinh ngày 18/12/1982 tại tỉnh Quảng Nam; Nơi ĐKNKTT: thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo ; Quốc tịch: Việt Nam và Canada; Con ông Trần Đình S (s) và bà Vũ Thị T (s); Có vợ là Đặng Thị Tuyết N (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2008;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 16/10/2018; Tạm giam ngày 25/10/2018. Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Vũ B: Ông Trần Tuấn L – Luật sư Công ty Luật TNHH 2TV H, thuộc Đoàn luật sư thành phố Đà Nẵng - bào chữa cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Trần Hoài T, sinh năm 1989. Trú tại: thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

- Anh Đào Viết T, sinh năm 1988. Trú tại: thành phố Đà Nẵng. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào trưa ngày 16/10/2018, Vũ B điện thoại cho Đào Viết T rủ đi nhậu. Cả hai đến quán nhậu L, đường P, thành phố Đà Nẵng, khi đi B mang theo một túi ni lông màu đen, bên trong có chứa 230 viên thuốc lắc hình con nhộng và 03 viên thuốc lắc màu tím. Khi đến trước quán nhậu L thì B đưa cho T cầm giúp gói ni lông màu đen bên trong có chứa ma tuý, vừa đưa qua tay T thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang. Đào Viết T không biết bên trong gói ni lông có chứa ma tuý.

Tang vật thu giữ:

- 01 gói ni lông màu trắng, kích thước khoảng (3,5x5,5)cm, bên trong có chứa 03 viên nén màu tím.

- 01 gói ni lông màu trắng, kích thước khoảng (15x20)cm, bên trong có chứa 227 viên hình con nhộng màu trắng và 03 viên hình con nhộng màu vàng.

Hai mục trên được niêm phong theo quy định ký hiệu A.

- Số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) không kiểm tra thật giả.

- 01 ĐTDĐ có chữ Iphone màu đen, gắn sim số 0927.181.282, số Imel: 357260099164724.

- 01 ĐTDĐ có chữ Iphone màu bạc, gắn sim số 0904.088.508, số Imel: 355400089899689.

- 01 hộ chiếu số B2343155 do Cục quản lý xuất nhập cảnh – Việt Nam cấp ngày 16/02/2009.

- 01 hộ chiếu số GK635309 do NORTH YORK – CANADA cấp ngày 16/10/2015.

- 215 đô la Canada, không kiểm tra thật giả.

Lúc 17 giờ 00 phút ngày 16/10/2018 thi hành lệnh khám xét khẩn cấp số 55 ngày 16/10/2018 tại phòng trọ 304, số 107 H, quận H, thành phố Đà Nẵng, nơi Vũ B ở. Thu giữ:

- 03 gói ni lông màu trắng kích thước khoảng (20x25cm) bên trong có chứa thảo mộc khô theo B khai đó là ma tuý loại Cần sa. Được niêm phong theo quy định ký hiệu B1.

- 01 lọ nhựa màu xanh đen, có chữ Combat, chiều cao khoảng 30cm, đường kính đáy khoảng 20cm, bên trong lọ có chứa thảo mộc khô, theo B khai đó là ma tuý loại Cần sa. Được niêm phong theo quy định ký hiệu B2.

- 02 viên hình con nhộng màu trắng theo B khai đó là ma tuý. Được niêm phong theo quy định ký hiệu B3.

- 01 cân điện tử màu đen có chữ Pocket Scale.

Lúc 17 giờ 35 phút ngày 16/10/2018 Phòng CSĐTTP về ma tuý CATP Đà Nẵng phối hợp Công an phường T, Đà Nẵng kiểm tra nơi ở của Đào Viết T tại nhà số 329 H, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng phát hiện tạm giữ 01 lọ thuỷ tinh có chứa búp thực vật khô. Tang vật này là của Đào Viết T, T khai đó là ma tuý loại cần sa mua của Vũ B trước đó. Được niêm phong ký hiệu T.

Quá trình điều tra xác định như sau:

Ngun gốc ma tuý B mua của một người thanh niên tên H (không rõ nhân thân, lai lịch). Vào ngày 03/10/2018, Vũ điện thoại cho H mua cần sa và thuốc lắc dạng viên hình con nhộng, với giá 100.000.000đ và H đã gửi ma tuý vào cho B tại địa chỉ số 107 H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.

Vũ B đã bán ma tuý cho Đào Viết T 02 lần, cụ thể:

Lần 1: Vào khoảng giữa tháng 8/2018, T sử dụng chương trình Telegram (Chương trình mà B nói T cài đặt vì công dụng có thể tự khoá cuộc trò chuyện sau một phút mà không sử dụng thao tác xoá) nhắn tin cho B khi B ở Canada để hỏi mua 50 gam cần sa, B đồng ý và báo giá là 17.000.000đ. T đồng ý mua và nói với B sẽ đưa trước số tiền 10.000.000đ, số còn lại sẽ trả sau, rồi thống nhất điểm giao ma tuý tại địa chỉ 329 H, quận T, thành phố Đà Nẵng. B có nhờ Trần Hoài T là bạn gái của Vũ B mang ma tuý cần sa đến 329 H, thành phố Đà Nẵng giao cho T, T đưa cho Thu 10.000.000đ. Số nợ còn lại T cũng trả cho B thông qua Thu, sau khi trả tiền thì T đã thông báo cho B biết qua chương trình Telegram.

Ln 2: Khong ngày 26/9/2018, T liên hệ với B thông qua chương trình Telegram để hỏi mua 50 gam cần sa, B đồng ý bán và báo giá là 15.000.000đ, T đồng ý mua và xin nợ sẽ trả sau. B đồng ý và nói chờ khoảng hai đến ba ngày sau hàng sẽ về. Đến khoảng ngày 28/9/2018 B đưa số điện thoại và nói T liên hệ với một người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) để nhận ma tuý. Sau đó, người này hẹn T đến đường H, quận S, thành phố Đà Nẵng để nhận ma tuý cần sa. Khi T đến gặp và nhận ma tuý, rồi mang về 329 H, thành phố Đà Nẵng cất giữ để sử dụng, số còn lại đã bị Cơ quan CSĐT khám xét, thu giữ 01 búp thực vật khô như đã nêu trên.

Theo Kết luận giám định số 205 ngày 24/10/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận:

- Mẫu chất bột bên trong các viên hình con nhộng ký hiệu A1, A2 và B3 gửi giám định là ma tuý, loại MDMA; khối lượng chất bột A1: 42,209 gam; A2: 0,622 gam; B3: 0,360 gam.

- Mẫu viên nén màu tím được ký hiệu A3 gửi giám định là ma tuý, loại MDMA; khối lượng mẫu A3: 1,467 gam.

- Thảo mộc khô trong các gói niêm phong ký hiệu B1, B2 gửi giám định là ma tuý, loại cần sa, khối lượng mẫu B1: 549,05 gam; B2: 732,15 gam.

Theo Kết luận giám định số 212 ngày 01/11/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: Mẫu búp thực vật khô trong lọ niêm phong ký hiệu T gửi đi giám định là ma tuý loại cần sa, khối lượng mẫu T: 41,941 gam.

Với nội dung nêu trên tại bản án hình sự sơ thẩm số: 93/2019/HS-ST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Căn cứ điểm h khoản 3; khoản 5 Điều 251 Bộ Luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Vũ B 18 (mười tám) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 16/10/2018.

Hình phạt bổ sung: Phạt tiền đối với bị cáo 50.000.000đ.

2. Về dân sự: Căn cứ Điều 221 Bộ luật dân sự;

Không chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Thị Thân về việc được nhận lại số tiền 10.000.000đ.

Bản án còn quyết định về án phí xử lý tang vật và quyền kháng cáo.

Ngày 09 tháng 12 năm 2019 bị cáo có đơn kháng cáo, đề nghị tòa án cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm vì cho rằng bị cáo không phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo. Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, hủy án sơ thẩm, do có những tài liệu chứng cứ chưa được cơ quan điều tra là rõ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời khai nhận của bị cáo, ý kiến người bào chữa, và kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đánh giá khách quan toàn diện và đầy đủ chứng cứ. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lúc 14 giờ 00 phút, ngày 16/10/2018, tại trước quán L, đường P, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng; tại số nhà 107 đường H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng và tại nhà số 329 đường H, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng, Phòng Cảnh sát điều tra về ma tuý Công an thành phố Đà Nẵng kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ ma tuý loại MDMA với tổng khối lượng là 44,668 gam và ma tuý loại cần sa với tổng khối lượng là 1.323,141 gam của Vũ B nhằm mục đích mua bán và sử dụng.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo cho rằng bị cáo không phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo cho rằng bị cáo mua ma túy, cần sa về để sử dụng, tuy nhiên căn cứ vào những tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án có đủ căn cứ để khẳng định bị cáo mua ma túy về với mục đích để bán kiếm lời và trên thực tế đã bán bởi những căn cứ như sau:

[2.1] Trong quá trình điều tra tại những lời khai ban đầu bị cáo khai nhận mua ma túy về mục đích bán kiếm lời và trên thực tế đã bán cho Đào Viết T. Tại biên bản lấy lời khai ban đầu ngày 16 tháng 10 năm 2018 (Ngày bị bắt quả tang) [Bl 125,126] bị cáo khai nhận số ma túy trên là do bị cáo mua của người đàn ông bên Canada, sau đó người này gửi qua đường bưu điện cho bị cáo. Khi hỏi về mục đích mua ma túy để làm gì bị cáo thừa nhận mua về nhằm mục đích bán kiếm lời. Tại lời khai ngày 18 tháng 10 năm 2018 [BL127] bị cáo khai nhận đã bán ma túy loại cần sa cho Đào Viết T một lần với gía 15 triệu đồng. Ngoài ra tại các bản tự khai và tường trình bị cáo đều thừa nhận mua ma túy về bán kiếm lời, đồng thời dự kiến các mức giá đối với từng loại ma túy. Lời khai nhận ban đầu của bị cáo là phù hợp với lời khai nhận của Đào Viết T là người mua ma túy, cần sa của bị cáo. Tại phiên tòa sơ thẩm, Đào Viết T cũng khai nhận như lời khai tại cơ quan điều tra. Tại phiên tòa phúc thẩm, Đào Viết T cũng khai nhận đã mua ma túy của bị cáo B về sử dụng. Xét thấy lời khai nhận ban đầu của bị cáo là phù hợp với lời khai nhận của Đào Viết T, phù hợp với những vật chứng thu giữ được tại nơi ở của bị cáo và nơi ở của Đào Viết T. Qua xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm cũng không có tình tiết, chứng cứ nào mới cần được xem xét. Như vậy việc bị cáo sau này thay đổi lời khai và cho rằng chỉ mua ma túy về sử dụng là không có căn cứ chấp nhận. Tại đơn kháng cáo của bị cáo và tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo nại ra cho rằng bị ép cung, mớm cung… Xét thấy lời khai nại của bị cáo là không có căn cứ chấp nhận bởi lẽ: Ngay tại biên bản phạm tội quả tang và biên bản lấy lời khai ban đầu bị cáo thừa nhận ma túy là của bị cáo đưa cho T, và bị cáo đã bán ma túy cho T, tại bản tự khai của bị cáo có xác nhận của Luật sư cũng có nội dung như bản lấy lời khai ban đầu. Trong quá trình bị tạm giam bị cáo cũng được tiếp xúc với luật sư và 03 lần tiếp xúc với đại diện Lãnh xứ quán Canada tại Việt Nam, đều không có phản ánh gì về nội dung như bị cáo đã khai nại nêu trên. Trong qua trình làm việc với cơ quan điều tra, có cả luật sư, bị cáo đã có hành vi đập điện thoại di động nhằm tiêu hủy chứng cứ khi cơ quan điều tra tiến hành cho bị cáo xem nhật ký các cuộc gọi tin nhắn trong điện thoại của bị cáo (BL162 - biên bản sự việc 23/8/2019).

Như vậy: Tổng khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo là 44,668 gam loại MDMA và ma tuý loại cần sa với tổng khối lượng là 1.323,141 gam của Vũ B nhằm mục đích mua bán và sử dụng.

Ti phiên tòa hôm nay bị cáo đề nghị toà án xem xét trả lại số tiền 10.000.000 đồng cho mẹ bị cáo. Xét thấy số tiền 10.000.000 đồng cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo là có căn cứ, bị cáo cho rằng đó là số tiền của mẹ bị cáo là không có cơ sở chấp nhận.

[3] Từ phân tích đánh giá nêu trên xét thấy bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Đơn kháng cáo của bị cáo không có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Vũ B. Giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số: 93/2019/HS-ST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Đà nẵng.

1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Căn cứ điểm h khoản 3; khoản 5 Điều 251 Bộ Luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Vũ B 18 (mười tám) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 16/10/2018.

Hình phạt bổ sung: Phạt tiền đối với bị cáo 50.000.000đ.

2/ Án phí: Bị cáo Vũ B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, và không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


44
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 35/2020/HS-PT ngày 24/02/2020 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:35/2020/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 24/02/2020
Là nguồn của án lệ
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về