Bản án 35/2020/HNGĐ-ST ngày 17/07/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 35/2020/HNGĐ-ST NGÀY 17/07/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 17 tháng 7 năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện An Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 195/2020/TLST - HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2020/QĐXX-ST ngày 07 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Võ Phi H, sinh năm: 1979 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Bị đơn: Chị Nguyễn Ngọc T, sinh năm: 1977 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Cùng cư trú: Ấp KQB, xã VK, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 24/6/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Võ Phi H trình bày và yêu cầu như sau:

Anh vaø chị Nguyễn Ngọc T tổ chức đám cưới, chung soáng vôùi nhau từ năm 1998. Trước khi chung sống thì anh chị có tìm hiểu nhau trước rồi mới tiến tới hôn nhân nhưng anh chị không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi kết hôn, anh chị về sinh sống chung với gia đình anh H tại ấp KQB, xã VK cho đến năm 2010 thì anh chị ly thân cho đến nay.

Trong quaù trình anh chị chung soáng thì phaùt sinh maâu thuaãn. Nguyeân nhaân maâu thuẫn laø do luôn bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp thường xuyên xảy ra cự cãi. Mặc dù anh chị đã cho nhau nhiều cơ hội nhưng không thể hàn gắn được.

- Về con chung: Có 02 con chung cháu Võ Nhật H1, sinh ngày 16/02/1999 và cháu Võ Thị Diễm M, sinh ngày 26/3/2002. Hiện nay, 02 cháu đã có gia đình riêng.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có tranh chấp.

Do xét thấy hôn nhân của anh chị không thể hàn gắn được nên anh H yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Ngọc T.

- Veà quan heä con chung: Hiện nay các cháu đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Ngọc T trình bày và yêu cầu như sau:

Chị xác nhận, chị và anh H tổ chức đám cưới, chung soáng vôùi nhau từ năm 1998 nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi kết hôn, anh chị sinh sống chung với gia đình anh H tại ấp KQB, xã VK cho đến năm 2010 thì ly thân cho đến nay.

Nay, chị xét thấy hôn nhân của chị và anh H không hàn gắn được nữa nên chị đồng ý ly hôn với anh H.

- Veà quan heä con chung: Hiện nay các cháu đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.

* Tại phiên tòa:

- Anh H và chị T: Vắng mặt - Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật tố tụng dân sự;

Đối với các đương sự thì từ khi thụ lý vụ án đến nay các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, không công nhận anh Võ Phi H và chị Nguyễn Ngọc T là vợ chồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (gọi tắt là HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Võ Phi H khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Ngọc T là tranh chấp dân sự về hôn nhân và gia đình. Khi anh H khởi kiện được Tòa án thụ lý vụ án giải quyết thì chị T đang cư trú và sinh sống tại ấp KQB, xã vK, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Qua yêu cầu của các đương sự trong vụ án được xác định mối quan hệ pháp luật là “Ly hôn”.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đến các đương sự để tham gia phiên tòa nhưng anh H và chị T có đơn xin xét xử vắng mặt nên HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt anh H và chị T.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Võ Phi H và chị Nguyễn Ngọc T chung sống từ năm 1998 nhưng anh chị không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại cơ quan có thẩm quyền (UBND xã, phường, thị trấn nơi cả hai cư trú) và cho đến khi anh H có đơn khởi kiện về việc yêu cầu ly hôn đối với chị T thì anh chị vẫn không thực hiện việc đăng ký kết hôn như vậy là vi phạm theo Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Mặc dù anh chị chung sống trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm các điều kiện kết hôn.

Do đó, HĐXX căn cứ vào khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh H và chị T.

[3] Về quan hệ con chung: Anh H và chị T xác nhận, trong quá trình chung sống, anh chị có 02 con chung là cháu Võ Nhật H1, sinh ngày 16/02/1999 và cháu Võ Thị Diễm M, sinh ngày 26/3/2002. Hiện nay, 02 cháu đã có gia đình riêng nên anh chị không yêu cầu giải quyết. Do đó HĐXX không xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Anh H và chị T xác nhận không có tranh chấp nên HĐXX không xem xét.

Nhưng sau khi ly hôn, trường hợp có phát sinh nợ chung trong thời kỳ hôn nhân của anh H và chị T thì anh chị vẫn có nghĩa vụ liên đới.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh H phải chịu án phí ly hôn số tiền là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh Võ Phi H và chị Nguyễn Ngọc T là vợ chồng.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Võ Phi H chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo lai thu 0007930 ngày 03/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Anh H đã nộp án phí xong.

3/ Quyền kháng cáo: Anh H và chị T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


63
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 35/2020/HNGĐ-ST ngày 17/07/2020 về ly hôn

Số hiệu:35/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện An Minh - Kiên Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:17/07/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về