Bản án 35/2019/HS-ST ngày 27/06/2019 về tội cưỡng đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 35/2019/HS-ST NGÀY 27/06/2019 VỀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 27 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2019/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Huỳnh Văn H - Sinh ngày 06 tháng 12 năm 1989 tại Huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Tên gọi khác: Ỏn. Nơi cư trú: K4, thị trấn CC, Huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn S và bà Ngô Thị L; vợ là Lê Thị Linh O; con: bị cáo chưa có con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Năm 2009 bị Tòa án nhân dân H Anh S xử phạt 12 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, năm 2010 Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm xử phạt bị cáo 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng. Hiện bị cáo đã chấp hành xong và đã được xóa án tích; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/02/2019 đến ngày 18/02/2019 chuyển tạm giam, ngày 27/02/2019 thay đổi biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Bị cáo có mặt.

2. Phạm Vương HA - Sinh ngày 04 tháng 6 năm 1988 tại Huyện NĐ, tỉnh Nghệ An. Tên gọi khác: không. Nơi cư trú: Khối TP, phường VT, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Xuân Vượng và bà Nguyễn Thị Minh Hương; vợ là Nguyễn Thị Hà Ngân và có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/02/2019 đến ngày 18/02/2019 cHển tạm giam, ngày 27/02/2019 thay đổi biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Bị cáo có mặt.

3. Hà Trung Ng - Sinh ngày 07 tháng 3 năm 1995 tại Huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Tên gọi khác: không. Nơi cư trú: khối 2, thị trấn Con Cuông, Huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Quyết Thắng và bà Nguyễn Thị Hoa; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/02/2019 đến ngày 18/02/2019, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt.

- Người bị hại: Anh Hoàng Xuân S, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Khối QT, phường HB, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị Linh O, sinh năm 1991. Vắng mặt.

Địa chỉ: K4, thị trấn CC, Huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.

- Người làm chứng:

1. Chị Vy Thị V.A, sinh năm 1992. Vắng mặt.

Địa chỉ: Bản Xàn, xã Hữu Khuông, Huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.

2. Anh Nguyễn Tất T, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Phường HB, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 11 năm 2018, anh Hoàng Xuân S có đến cơ sở dịch vụ Hỗ trợ tài chính HHĐB có địa chỉ tại số 73A, đường Nguyễn Xuân Ôn, Phường HB, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An do Huỳnh Văn H (tên gọi khác là Ỏn và Phạm Vương HA làm chủ để vay tiền. Lúc đó Hà Trung Ng là người làm của H và HA. Tại đây anh S đã vay của H và HA số tiền 30.000.000 đồng với lãi suất 144%/1 năm. Quá trình vay, anh S mới trả được số tiền cả gốc và lãi là 10.800.000 đồng, còn lại số tiền 19.200.000 đồng anh S chưa có điều kiện để trả. Sau đó H, HA và Ng đã nhiều lần liên hệ cho anh S nhưng anh S chưa có tiền trả và xin khất nợ. Do đã quá ngày hẹn nên H, HA và Ng đã đi tìm anh S để yêu cầu S trả số tiền trên nhưng không gặp được.

Đến khoảng 12 giờ 45 phút, ngày 09/02/2019 khi Ng đang ở nhà tại khối 2, thị trấn Con Cuông, Huyện Con Cuông thì nhận được điện thoại của một người quen báo cho Ng biết là anh S đang ngồi trên xe khách Đạt An di cHển từ Huyện Tương Dương về Huyện Con Cuông. Sau khi nhận được tin, Ng lấy xe máy đi lên nhà của H và báo cho H biết, rồi quay về nhà. Khoảng 15 phút sau, Ng đi xe máy quay lại nhà H thì gặp HA đang đến chơi ở nhà H. Tại nhà H cả ba bàn nhau việc đón xe khách Đạt An để tìm S đòi nợ. Sau đó Ng điều khiển xe máy qua đứng trước quán ăn Lâm Điệp thuộc K4, thị trấn CC, đối diện nhà H, HA đi bộ theo sau Ng, còn H thì đứng chờ bên nhà của H. Đến khoảng 13 giờ 15 phút cùng ngày, khi thấy xe khách Đạt An về đến thị trấn Con Cuông. Lúc này xe khách có trả khách ở ngay gần vị trí Ng và HA đang đứng chờ, thấy xe Ng liền phóng xe máy lại dựng trước đầu xe khách, HA đi bộ lại gần, H cũng đi bộ qua đường tiến lại gần xe khách. Lúc này một mình Ng lên xe khách, còn H đứng ở cửa lên xuống của xe, HA cũng đứng gần đó. Gặp anh S, Ng nói “S ơi mi đây rồi, mi xuống đây”, Ng vừa nói vừa nắm cổ áo anh S và kéo xuống xe. Khi Ng kéo anh S xuống đến cửa lên xuống của xe khách thì H đang đứng ở đó và cùng Ng kéo anh S xuống khỏi xe. Sau khi xuống xe, Ng nói với anh S “Mi qua đây nói cHuyện”, vừa nói Ng vừa ôm tay qua vai anh S và kéo đi. Anh S nói: “Mi thả tau ra tau tự đi” vừa nói anh S vừa gạt tay của Ng ra khỏi người. Thấy anh S tỏ thái độ như vậy, H và Ng liền đánh anh S, thấy vậy chị Vy Thị V.A, sinh năm 1992, trú tại xã Hữu Khuông, Huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An (là bạn gái của anh S) lại can ngăn thì HA đứng gần đó đẩy chị V.A ra và nói “Mi tránh ra đi”. Sau đó có anh Nguyễn Tất T là lái xe khách cũng can ngăn nên H và Ng không đánh anh S nữa. H kéo anh S qua nhà của H để nói cHuyện, HA và chị V.A đi bộ theo sau, Ng thì lấy xe máy và cùng đi qua nhà H. Tại nhà của Huỳnh Văn H, lúc này có H, HA, anh S, chị V.A ở trong nhà, còn Ng ngồi ngoài cửa. H nói với anh Hoàng Xuân S “Mi mượn tiền của choa mà không chịu trả, mi bỏ trốn, choa gọi cho mi bao nhiêu cuộc mà mi không nghe máy”, S nói “Em đi miền nam làm ăn mới về, giừ em không có chi nựa cả, để em ra tết thu xếp em trả”. Nghe S nói vậy H liền tát anh S một cái vào mặt. HA nói “Mi trả lại tiền cho choa”, anh S nói “Em không có tiền nựa, để em gọi điện về cho mẹ, cho chị”. Sau đó anh S lấy điện thoại gọi điện cho chị Hoàng Thị Quỳnh, trú tại Ngõ 5, Phường HB, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An (là chị gái của anh S) để mượn tiền trả nợ, nhưng chị Quỳnh nói không có tiền. HA nói anh S “Nói chị bây viết giấy nợ, ký tên vào đó tý có người lại lấy”. Sau đó anh S gọi lại cho chị Quỳnh để nhờ viết giấy nợ nhưng chị Quỳnh không chịu viết. Lúc này H nói Ng đi mua giấy bút về để bắt anh S viết giấy nợ tại nhà H. Trong lúc Ng đi mua giấy bút thì H nói HA, anh S, V.A đi qua quán nước đối diện nhà H để tiếp tục nói cHuyện. Tại quán nước, HA nói “Mi không có tiền trả cho choa mà lại có tiền đưa người yêu đi chơi à”, anh S ngồi im không nói gì. HA nói tiếp “Mi phải xoay xở mà trả cho choa một phần mô đó”, H nói với anh S:“Mi trả cho choa mươi mười lăm triệu chi đó trước, còn lại bựa sau trả”. Vừa lúc đó Ng mua giấy bút về, H nói anh S viết giấy bán xe, anh S nói “Em không có xe”, H nói “Xe SH bựa mi đi đó”, S nói “Xe đó là xe của bạn em”, H nói anh S gọi điện cho bạn hỏi đặc điểm xe để ghi vào giấy bán xe. Sau khi viết giấy bán xe xong, anh Hoàng Xuân S lấy tiền trong túi ra đếm được 7.400.000 đồng (Bảy triệu bốn trăm ngàn đồng) và nói “Em có từng ni” và S để tiền trên bàn uống nước. HA nói Ng đếm và cất tiền, còn H đưa cho Ng cất tờ giấy bán xe mà anh S vừa viết. Sau đó HA nói S gọi điện thoại về nhà để xin thêm tiền trả nợ, S gọi điện cho mẹ của S để xin tiền nhưng mẹ S nói không có, nên HA và Ng lại tiếp tục kéo S ra và đánh. Đúng lúc đó lực lượng Công an Huyện Con Cuông có mặt đưa 03 đối tượng Huỳnh Văn H, Phạm Vương HA, Hà Trung Ng cùng anh Hoàng Xuân S và chị Vi Thị V.A về trụ sở làm việc.

Sau khi nhận thức được hành vi phạm tội của mình Huỳnh Văn H và Hà Trung Ng đã đầu thú khai báo sự việc. Căn cứ vào các tài liệu đã thu thập được cơ quan CSĐT Công an Huyện Con Cuông đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Vương HA.

Ngày 10/2/2019, Cơ quan CSĐT Công an Huyện Con Cuông đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Huỳnh Văn H và Phạm Vương HA. Quá trình khám xét đã thu giữ tại nơi ở của H 05 quyển sổ được đánh số thứ tự từ 01 đến 05, Riêng tại nhà của HA thì Cơ quan cảnh sát điều tra không thu giữ gì.

Cáo trạng số: 27/CT-VKS-CC ngày 20/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Con Cuông đã truy tố các bị cáo Huỳnh Văn H, Phạm Vương HA và Hà Trung Ng về tội “Cưỡng đoạt tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố. Tỏ ra ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Con Cuông giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử đề nghị: Giữ Ng việc truy tố các bị cáo Huỳnh Văn H, Phạm Vương HA và Hà Trung Ng phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật hình sự và:

Về hình sự:

Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Văn H mức án từ 13 tháng đến 17 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 26 tháng đến 34 tháng; Xử phạt bị cáo Hà Trung Ng mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng.

Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Vương HA mức án từ 12 tháng đến 16 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 32 tháng.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu nên miễn xét.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm thepo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

- Trong quá trình điều tra: Cơ quan điều tra, Điều tra viên được phân công điều tra đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng về việc kiểm tra, xác minh, thu thập chứng cứ, lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; lập hồ sơ vụ án; hỏi cung bị can; xử lý vật chứng; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn theo quy định của pháp luật.

- Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện nghiêm túc hoạt động kiểm sát điều tra; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn theo quy định của pháp luật; tham gia phiên tòa đúng thời gian, địa điểm; công bố bản cáo trạng; tham gia xét hỏi, luận tội, tranh luận và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án đồng thời thực hiện việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án cũng như người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử.

- Các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Do các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên hợp pháp và được sử dụng làm chứng cứ để Hội đồng xét xử xem xét.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Huỳnh Văn H, Phạm Vương HA và Hà Trung Ng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ lioên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 09/02/2019, tại khối 4 thị trấn Con Cuông, Huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, Huỳnh Văn H, Phạm Vương HA, Hà Trung Ng đã có hành vi cưỡng đoạt của anh Hoàng Xuân S số tiền 7.400.000 đồng (Bảy triệu bồn trăm nghìn đồng). Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Huỳnh Văn H, Phạm Vương HA, Hà Trung Ng phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật hình sự.

[3] Xét tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, có nhiều bị cáo cùng tham gia thực hiện nhưng không xác định được người rủ rê, khởi xướng, không có sự bàn bạc phân công thực hiện tội phạm, sự liên kết trong các hành vi của các bị cáo chỉ là đồng phạm giản đơn, không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức. Nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản mà còn xâm phạm đến quyền nhân thân của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng chống các tệ nạn xã hội và là Ng nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác nên cần phải xử lý nghiêm các bị cáo để có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của các bị cáo:

Bị cáo H là chủ cơ sở dịch vụ Hỗ trợ tài chính HHĐB lẽ ra khi Ng thông báo anh Hoàng Xuân S đang đi trên xe khách từ Huyện Tương Dương về bị cáo phải tìm cách giải quyết sự việc một cách thấu tình đạt lý nhưng bị cáo không làm được điều đó mà dẫn thân vào con đường phạm tội đồng thời là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội một cách tích cực, đánh và tát vào mặt của anh S, ép anh S phải viết giấy bán xe trong khi anh S không phải là chủ sở hữu của chiếc xe đó. Hơn nữa bản thân bị cáo có nhân thân xấu, từng bị Tòa án đưa ra xét xử về tội “Gây rối trật tự công cộng” tuy đã được xóa án tích nhưng lại không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân nay tiếp tục phạm tội chứng tỏ bị cáo là người thiếu quyết tâm rèn luyện tu dưỡng bản thân, coi thường kỷ cương pháp luật nên bị cáo phải chịu trách nhiệm chính tương xứng với hành vi phạm tội của mình. Nhưng xét, sau khi phạm tội nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật bị cáo đã ra đầu thú, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, có nơi cư trú rõ ràng, tài sản cưỡng đoạt đã giao nộp đầy đủ cho cơ quan công an và trả lại cho người bị hại, đã có thành tích trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm được Đồn biên phòng cửa khẩu cảng Cửa Lò - Bến Thủy xác nhận nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Xét thấy bị cáo vẫn còn khả năng cải tạo, chưa cần thiết buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà nên giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách là đủ.

Đối với bị cáo Anh và bị cáo Ng với vai trò là người thực hành nhưng các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội rất tích cực. Các bị cáo đã có hành vi đấm, đánh vào người bị hại và có nhiều lời nói đe doạ người bị hại tuy không gây ra thương tích cho người bị hại nhưng cũng phần nào ảnh hưởng đến tâm lý của họ.

Vì vậy hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo Ng sau khi phạm tội đã đến cơ quan công an đầu thú; các bị cáo đã có thành tích trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm được Đồn biên phòng của khẩu cảng Cửa Lò - Bến Thủy xác nhận nên bị cáo Ng được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo HA được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy các bị cáo Ng và Anh đều phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự nên chưa thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà nên giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách là đủ.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo đều đang sống chung cùng gia đình, thu nhập không ổn định, tài sản không có nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo.

[4] Về vật chứng:

- Thu giữ của Huỳnh Văn H số tiền 7.400.000 (Bảy triệu bốn trăm ngàn) đồng; 01 tờ giấy bán xe mang tên Hoàng Xuân S, sinh năm 1994, trú tại Số 7, Ngõ 5, đường Kim Đồng, phường Hưng Bình, TP Vinh, Nghệ An; 05 quyển sổ, được đánh số thứ tự từ 01 đến 05.

Trong quá trình điều tra, cơ quan xác minh 05 cuốn sổ thu giữ tại nhà H không liên quan đến vụ án nên ngày 24/4/2019, cơ quan CSĐT Công an Huyện Con Cuông đã ra quyết định xử lý đồ vật tài liệu trả lại cho H 05 quyển số được đánh sổ thứ tự từ 01 đến 05.

Đối với số tiền thu H chiếm đoạt của anh Hoàng Xuân S, ngày 06/5/2019, cơ quan CSĐT Công an Huyện Con Cuông đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Hoàng Xuân S, số tiền 7.400.000 (Bảy triệu bốn trăm ngàn) đồng.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra người bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 170; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự: Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Văn H, Hà Trung Ng phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn H 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Hà Trung Ng 13 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 26 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Huỳnh Văn H và Hà Trung Ng cho Ủy ban nhân dân thị trấn Con Cuông, Huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 170; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự: Tuyên bố các bị cáo Phạm Vương HA phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phạm Vương HA 13 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 26 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Vương HA cho Ủy ban nhân dân phường Vinh Tân, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc các bị cáo Huỳnh Văn H, Phạm Vương HA và Hà Trung Ng mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


43
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 35/2019/HS-ST ngày 27/06/2019 về tội cưỡng đoạt tài sản

Số hiệu:35/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Con Cuông - Nghệ An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:27/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về