Bản án 35/2019/HS-ST ngày 19/03/2019 về tội tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 35/2019/HS-ST NGÀY 19/03/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ VÀ MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 19 tháng 03 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2019/HSST ngày 25 tháng 02 năm 2019, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2019/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 03 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Quàng Thị S, tên gọi khác: Không; sinh năm 1984, tại Điện Biên; nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Đội 18A, xã Th, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Không; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Quàng Văn X, sinh năm 1930 và con bà Quàng Thị K, sinh năm 1937; có chồng: Lò Văn A, sinh năm 1983 (đã chết), và 01 con sinh năm 2001; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/12/2018, tạm giam từ ngày 05/12/2018 đến nay bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Nguyễn Hưng H, tên gọi khác: Không; sinh năm 1971, tại Điện Biên; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn C4, xã Th, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Xuân T, sinh năm 1941 (đã chết) và con bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1948; có vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1971 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 1997; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/12/2018, tạm giam từ ngày 05/12/2018 đến nay bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 17 giờ ngày 02/12/2018 Quàng Thị S mang theo số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đi bộ từ nhà tại Đội 18A, xã Th, huyện Điện Biên ra khu vực bờ mương cùng đội để tìm mua ma túy về sử dụng và bán. Tại đây, S gặp một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 50 tuổi (không biết tên, địa chỉ). Qua trao đổi biết người đàn ông có ma túy bán nên S đã hỏi và mua được 01 gói heroine được gói bằng nilon màu xanh, miệng được buộc thắt nút với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được heroine, S cầm ở tay trái đi bộ về nhà. Thấy trong nhà không có ai, S chia gói heroine ra thành 02 gói đều được gói bằng nilon màu xanh, trong đó: 01 gói miệng được buộc thắt nút, 01 gói miệng được hơ lửa hàn kín. S cất số heroine vừa chia vào trong túi áo khoác bên phải rồi mang áo khoác xuống bếp treo. Khoảng 18 giờ ngày 02/12/2018, Nguyễn Hưng H đến nhà hỏi mua 100.000 đồng heroine. Sổ đồng ý bán và nhận số tiền H đưa cất vào túi quần bên trái đang mặc rồi đi xuống bếp lấy gói heroine được gói bằng nilon màu xanh, miệng hơ lửa hàn kín cất trong túi áo khoác lên đưa cho H. Mua được heroine H cầm ra sân cất vào chiếc giày đen bên phải H đang đi với mục đích mang về để sử dụng. Hồi 19 giờ cùng ngày khi H đang đi bộ đến khu vực thôn C4, xã Thanh Hưng thì bị tổ công tác Công an huyện Điện Biên bắt quả tang, tổ công tác đã lập biên bản bắt giữ người, thu giữ vật chứng gồm 0,18g (không phẩy mười tám gam) heroine mà H để trong chiếc giày bên phải H đang đi.

Hi 22 giờ ngày 02/12/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên đã tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở của Quàng Thị S. Qua khám xét thu giữ 01 gói heroine được gói bằng nilon màu xanh, miệng được buộc thắt nút có khối lượng 2,57 gam (hai phẩy năm bảy gam) tại túi áo khoác bên phải S đang mặc cùng 01 tờ tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng tại túi quần bên trái S đang mặc.

Tại phiên tòa các bị cáo Quàng Thị S, Nguyễn Hưng H đã khai nhận lại toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo. Mọi lời khai của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với nội dung vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong và xác định khối lượng lấy mẫu giám định, kết luận giám định, kết luận điều tra....

Kết luận giám định số 131/GĐ-PC09 ngày 11/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận mẫu giám định: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Nguyễn Hưng H gửi giám định là ma túy: Loại heroine; khối lượng vật chứng thu giữ của Nguyễn Hưng H là 0,18 gam; Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, Mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018; Không hoàn lại đối tượng giám định.

Kết luận giám định số 133/GĐ-PC09 ngày 12/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận mẫu giám định: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Quàng Thị S gửi giám định là ma túy: Loại heroine; khối lượng vật chứng thu giữ của Quàng Thị S là 2,57 gam; Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, Mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018; Không hoàn lại đối tượng giám định.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Quàng Thị S, Nguyễn Hưng H không khiếu nại về kết luận giám định.

Tại bản Cáo trạng số 38/CT-VKSĐB ngày 22/02/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố các bị cáo Quàng Thị S về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 và truy tố bị cáo Nguyễn Hưng H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng đối với bị cáo Quàng Thị S theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Hưng H theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”; Xử phạt bị cáo Quàng Thị S mức án từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù; Xử phạt bị cáo Nguyễn Hưng H mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy 0,18 gam heroine thu giữ của Nguyễn Hưng H đã trích 0,05 gam gửi giám định không hoàn lại; Tịch thu tiêu hủy 2,57 gam heroine vật chứng thu giữ của Quàng Thị S, trích 0,17 gam gửi giám định không hoàn lại; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000đ (một trăm nghìn) do bị cáo S phạm tội mà có. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự hình sự năm 2015; Căn cứ điểm đ Khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14; Quyết định số 900/QĐ-TTg phê duyệt danh sách xã đặc biệt khóa khăn, xã biên giới, ...chương trình 135 giai đoạn 2017-2020. Buộc bị cáo Nguyễn Hưng H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Đối với bị cáo Quàng Thị S có Giấy chứng nhận hộ nghèo, nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, cả hai bị cáo đều nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát, không có ý kiến gì tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của hai bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi của các bị cáo bị truy tố và các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng huyện Điện Biên và những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng như: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng đã được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì, không khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Hành vi của các bị cáo được chứng minh như sau: Khoảng 17 giờ ngày 02/12/2018 Quàng Thị S mua của người đàn ông dân tộc Thái khoảng 50 tuổi (không biết tên, địa chỉ) 300.000 đồng heroine với mục đích để sử dụng và bán. Khoảng 18 giờ cùng ngày tại nhà ở của S, S đã bán cho Nguyễn Hưng H 01 gói heroine với giá 100.000 đồng. Khi H về đến khu vực C4, xã Th, huyện Điện Biên thì bị tổ công tác Công an huyện Điện Biên bắt quả tang, thu giữ 0,18 gam heroine mà H đã mua của S. Hồi 22 giờ cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên đã khám xét khẩn cấp tại nhà ở của S thu giữ 2,57 gam heroine và 100.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. S đã bán cho H 0,18 gam heroine để H sử dụng nên S phải chịu trách nhiệm hình sự về khối lượng chất ma túy đã thu giữ của H. Với hành vi đã nêu trên của các bị cáo đã khai tại Cơ quan Điều tra và tại phiên tòa thì đã đủ cơ sở để kết tội bị cáo Quàng Thị S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, và bị cáo Nguyễn Hưng H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Cáo trạng truy tố các bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.

[3]. Về tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội thấy rằng: Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Các bị cáo đã tiếp tay cho những người khác chuyên buôn bán các chất ma túy ngày càng phát triển, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng tới trật tự trị an, an toàn trong xã hội trên địa bàn huyện Điện Biên nói riêng cũng như địa bàn tỉnh Điện Biên nói chung. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình gây ra. Nên các bị cáo phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Quàng Thị S sinh ra và lớn lên tại Đội 18A, xã Th, huyện Điện Biên, không được đi học ở nhà làm ruộng cùng gia đình, bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2018 cho đến nay; Bị cáo Nguyễn Hưng H sinh ra và lớn lên tại Thôn C4, xã Th, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, đi học đến lớp 12/12 thì nghỉ học ở nhà làm ruộng cùng gia đình, bị cáo bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2015 cho đến nay. Các bị cáo không có tình tiết nào tăng nặng, tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; Ngoài ra bị cáo Sổ có bố đẻ là ông Quàng Văn X được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba, đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước theo Quyết định số 270 KT/CTN ngày 09/5/1998 và bị cáo Nguyễn Hưng H có bố đẻ là ông Nguyễn Xuân T được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiếm hạng nhì, đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, theo Nghị quyết số 719 KT/HĐND ngày 15/8/1985. Nên các bị cáo được các hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có một hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, song xét hoàn cảnh gia đình các bị cáo khó khăn, không có nghề nghiệp ổn định, bản thân các bị cáo đều là người nghiện ma túy, gia đình bị cáo Sổ thuộc diện hộ nghèo. Do vậy HĐXX không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6]. Bị cáo Quàng Thị S khai nguồn gốc số ma túy mà bị cáo có được do bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc Thái, do bị cáo không biết địa chỉ của người đàn ông nên cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ. Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xử lý.

[7]. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy 0,18 gam heroine thu giữ của Nguyễn Hưng H đã trích 0,05 gam gửi giám định không hoàn lại; Tịch thu tiêu hủy 2,57 gam heroine vật chứng thu giữ của Quàng Thị S, trích 0,17 gam gửi giám định không hoàn lại; là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000đ (một trăm nghìn) do bị cáo S phạm tội mà có.

[8]. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự hình sự năm 2015; Căn cứ điểm đ Khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14; Quyết định số 900/QĐ-TTg phê duyệt danh sách xã đặc biệt khóa khăn, xã biên giới, ...chương trình 135 giai đoạn 2017 – 2020. Buộc bị cáo Nguyễn Hưng H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Đối với bị cáo Quàng Thị S có Giấy chứng nhận hộ nghèo, nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố:

- Bị cáo Quàng Thị Sổ phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Áp dụng khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

- Bị cáo Nguyễn Hưng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điểm c, Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015;

2. Xử phạt bị cáo Quàng Thị S 04 (bốn) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 02/12/2018.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hưng H 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 02/12/2018.

3. Vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 0,18 gam heroine thu giữ của Nguyễn Hưng H đã trích 0,05 gam gửi giám định không hoàn lại; Tịch thu tiêu hủy 2,57 gam heroine vật chứng thu giữ của Quàng Thị S, trích 0,17 gam gửi giám định không hoàn lại; là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành;

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000đ (một trăm nghìn) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là tiền do bị cáo S phạm tội mà có.

(Toàn bộ vật chứng của vụ án đã được cơ quan Điều tra Công an huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo biên bản bản giao nhận vật chứng ngày 26/02/2019).

4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự hình sự năm 2015; Căn cứ điểm đ Khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14; Quyết định số 900/QĐ-TTg phê duyệt danh sách xã đặc biệt khóa khăn, xã biên giới, ...chương trình 135 giai đoạn 2017 – 2020. Buộc bị cáo Nguyễn Hưng H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Đối với bị cáo Quàng Thị S có Giấy chứng nhận hộ nghèo, nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19/03/2019)./.


79
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 35/2019/HS-ST ngày 19/03/2019 về tội tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:35/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Điện Biên - Điện Biên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 19/03/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về