Bản án 35/2019/HS-ST ngày 14/11/2019 về tội trộm cắp tài sản và chống người thi hành công vụ  

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 35/2019/HS-ST NGÀY 14/11/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ

Ngày 14 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2019/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn Đ, sinh ngày 12/12/1988, tên gọi khác: Hiếu; nơi cư trú: ấp A, xã NP, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: ngư phủ; trình độ học vấn 01/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Hồ Thị D; vợ Nguyễn Thị Kim L và có 01 người con sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 21/8/2008 bị Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau phạt 08 năm tù về tội cướp tài sản chấp hành xong hình phạt ngày 28/3/2014 và ngày 14/02/2017 bị Công an xã NP phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản nhưng đã được xóa; bị bắt tạm giữ và tạm giam theo quyết định truy nã từ ngày 21/6/2019 cho đến nay “có mặt”.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1968; nơi cư trú: ấp A, xã NP, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau “vắng mặt”.

- Người làm chứng:

1. Anh Dư Thế A, sinh năm 1987; nơi cư trú: ấp A, xã NP, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau “vắng mặt”.

2. Anh Trà Ngọc H, sinh năm 1985; nơi cư trú: ấp B, xã NP, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau “vắng mặt”.

3. Anh Đỗ Tiến Đ, sinh năm 1994; nơi cư trú: ấp C, xã KH, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày A/02/20A, Lê Văn Đ lấy võ máy đưa những người bạn của Đ ra lộ xe U Minh – Khánh Hội tại đầu rạch Ông Q thuộc ấp A, xã NP, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau để đón xe buýt về nhà. Sau khi đưa bạn ra xe, Đ đi vào quán nước của chị Nguyễn Thị Y ở gần đó để mua thuốc hút, trong lúc mua thuốc hút Đ nhìn thấy 01 thùng loa kéo hiệu ILEVO, model F17, số D00400000151 đang để trên giường trong nhà chị Y nên nảy sinh ý định lấy đem về nhà sử dụng. Sau khi chị Y đi ra nhà sau, Đ quan sát thấy không có ai nên đi đến dùng hai tay nâng thùng loa đặt xuống đất thì thùng loa hú lên, Đ bỏ chạy ra bên ngoài. Chị Y nghe tiếng loa hú nên từ nhà sau đi lên thấy thùng loa đang để dưới đất nên đem để lại trên giương rồi quay trở lại nhà sau. Khi thấy chị Y đi ra nhà sau, Đ tiếp tục đi vào nhà dùng hai tay nhấc thùng loa để trên vai rồi đem xuống võ chạy về nhà. Sau khi phát hiện thùng loa bị mất, chị Y trình báo đến Công an xã NP đến lập biên bản.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐG ngày 02/3/20A của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện U Minh kết luận: 01 thùng loa kéo hiệu ILEVO, model F17, số D00400000151, giá trị thực tế còn lại là 3.600.000 đồng.

Sau khi phát hiện Đ lấy thùng loa của chị Ý, Cơ quan Cảnh sát diều tra Công an huyện U Minh ra Quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với Đ về tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Đến ngày 17/4/20A, Đ đã bỏ trốn khỏi địa phương nên Cơ quan Cảnh sát diều tra Công an huyện U Minh ban hành Quyết định truy nã bị can số 05 ngày 28/5/20A đối với Đ.

Đến ngày 21/6/2019, nhận được tin báo của nhân dân phát hiện Đ đang ở nhà tại ấp A, xã NP, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Ban chỉ huy Công an xã NP phối hợp với anh Đỗ Tiến Đ là trinh sát phụ trách địa bàn lập kế hoạch xác minh truy bắt Đ. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng đến nhà Đ gồm có anh Dư Thế A – Phó trưởng Công an xã NP, anh Trà Ngọc H – Công an viên xã NP và anh Đỗ Tiến Đ - Trinh sát phụ trách địa bàn thuộc Công an huyện U Minh. Khi đến nơi, phát hiện Đ đang có mặt tại nhà nên lực lượng vào trong nhà, anh Đạt hỏi “Anh tên Lê Văn Đ phải không? Anh có quyết định truy nã của Công an huyện U Minh”. Anh Đ chuẩn bị công bố quyết định truy nã thì Đ bỏ chạy ra nhà sau, anh Thế A và anh H đuổi theo Đ ra nhà sau, còn anh Đ chạy ra ngoài sân vòng vào cửa sau để phối hợp khống chế Đ. Khi bị khống chế, Đ chống trả quyết liệt và lấy 01 con dao Inox màu trắng vắt trên kệ nhà sau chém nhiều nhát vào lực lượng Công an nhằm mục đích tẩu thoát. Đến khi thấy chém trúng vào vùng trán của anh Thế A 02 cái gây thương tích thì Đ mới bỏ dao xuống và chấp hành dẫn giải đưa về Công an xã NP, còn anh Thế A được đưa đến Trung tâm y tế huyện U Minh điều trị thương tích.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số A6/TgT ngày 07/8/2019 của trung tâm pháp y tỉnh Cà Mau kết luận thương tích của anh Dư Thế A: 01 vết sẹo vùng trán, kích thước 5 cm x 0,2 cm, tỷ lệ 3%. 01 vết sẹo vùng trán trái, kích thước 3,5 cm x 0,2 cm, tỷ lệ 2%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 05%.

Vật chứng của vụ án thu giữ 01 con dao Inox màu trắng, mũi ngang, bản to, cán nhựa màu Đ có 03 nút tròn màu trắng, trên lưỡi có chữ HAPPYLIFE, chiều dài 29,2 cm, lưỡi dao dài 17,1 cm, chiều ngang rộng 7,7 cm, mũi dao có 01 lỗ tròn đường kính 01 cm (vật chứng Đ dùng chống trả lực lượng thi hành công vụ). Đối với 01 thùng loa kéo hiệu ILEVO, model F17, số D00400000151, Cơ quan điều tra Công an huyện U Minh đã trả lại cho chị Ý.

Về trách nhiệm dân sự, chị Y đã nhận lại thùng loa bị mất nên không yêu cầu bồi thường gì thêm, anh Thế A không yêu cầu bồi thường thiệt hại về thương tích.

Bản cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 09/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Lê Văn Đ về các tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự và tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đ về các tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Chống người thi hành công vụ”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 330, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; phạt bị cáo Đ từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản và từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội chống người thi hành công vụ. Vật chứng tịch thu tiêu hủy 01 con dao Inox màu trắng bị cáo Đ dùng chống trả lực lượng thi hành công vụ. Về trách nhiệm dân sự, chị Ý và anh Thế Anh không ai yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xét.

Bị cáo Đ thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố, bị cáo thống nhất luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo Đ: Bị cáo thấy hành vi của bị cáo gây ra là sai trái, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện U Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người liên quan không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo Lê Văn Đ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đ khai nhận vào khoảng 17 giờ ngày A/02/20A, bị cáo đến mua thuốc hút tại quán nước của chị Y ở ấp A, xã NP, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau, lợi dụng lúc chị Y đi ra nhà sau bị cáo lấy của chị Y 01 thùng loa kéo đem về nhà sử dụng, thùng loa có giá trị là 3.600.000 đồng. Sau khi lấy thùng loa của chị Y bị khởi tố, bị cáo đã bỏ trốn nên Cơ quan điều tra Công an huyện U Minh quyết định truy nã đối với bị cáo. Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 21/6/2019, bị cáo quay về nhà tại ấp A, xã NP, huyện U Minh, tỉnh Ca Mau thì bị lực lượng Công an xã NP phối hợp với Công an huyện U Minh vây bắt bị cáo theo quyết định truy nã, trong quá trình bắt bị cáo không chấp hành mà có hành vi dùng dao chống trả chém vào lực lượng Công an nhằm để tẩu thoát, hậu quả làm cho anh Dư Thế A là Phó Công an xã NP bị thương tích với tỷ lệ 05%.

[3] Lời khai nhận tội của bị cáo Đ trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, những người chứng kiến sự việc, vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu thu thập có tại hồ sơ vụ án. Với những chứng cứ, hành vi đã thực hiện, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đ phạm vào các tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự và tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát đối với hành vi phạm tội của bị cáo là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[4] Tại thời điểm phạm tội, bị cáo Đ có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết việc lấy trộm tài sản của người khác và chống trả người thi hành công vụ là vi phạm pháp luật, nhưng vì tham lam để có tài sản sử dụng và cản trở lực lượng Công an thi hành nhiệm vụ bắt giữ bị cáo theo quyết định truy nã nên bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Cụ thể, bị cáo lén lút lấy trộm của chị Y 01 thùng loa, sau khi lấy trộm tài sản của bà Y bị khởi tố, bị cáo đã bỏ trốn bị truy nã, khi lực lượng Công an phát hiện bắt giữ, bị cáo chống trả và dùng dao chém anh Thế A gây thương tích nhằm để tẩu thoát. Hành vi của bị cáo liên tiếp phạm hai tội, không chỉ xâm phạm đến tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến hoạt động của cơ quan nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân xấu, bản thân từng bị kết án về tội cướp tài sản và bị phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Với tính chất, mức độ đã gây ra, cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, phòng ngừa và giáo dục bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật được tốt hơn. Tuy nhiên, khi áp dụng hình phạt có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là có thái độ thành khẩn khai báo, bị cáo có bà nội có công với cách mạng được tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

[5] Về vật chứng đã thu giữ 01 con dao Inox màu trắng, mũi ngang, bản to, cán nhựa màu Đ có 03 nút tròn màu trắng, trên lưỡi có chữ HAPPYLIFE, chiều dài 29,2 cm, lưỡi dao dài 17,1 cm, chiều ngang rộng 7,7 cm, mũi dao có 01 lỗ tròn đường kính 01 cm; đây là công cụ bị cáo Đ sử dụng chống trả lực lượng thi hành công vụ, hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[6] Về trách nhiệm dân sự, tài sản lấy trộm đã được thu hồi trả lại cho chị Y, chị Y và anh Thế A không ai yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản bị mất trộm và thiệt hại về thương tích do bị cáo Đ gây ra nên không xem xét.

[7] Về án phí, bị cáo Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lê Văn Đ phạm các tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Chống người thi hành công vụ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 330, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự.

Phạt bị cáo Lê Văn Đ 06 (sáu) tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” và 09 (chín) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Tổng hợp hình phạt của hai tội bị cáo Lê Văn Đ phải chấp hành là 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 21/6/2019.

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tch thu tiêu hủy 01 con dao Inox màu trắng, mũi ngang, bản to, cán nhựa màu Đ có 03 nút tròn màu trắng, trên lưỡi có chữ HAPPYLIFE, chiều dài 29,2 cm, lưỡi dao dài 17,1 cm, chiều ngang rộng 7,7 cm, mũi dao có 01 lỗ tròn đường kính 01 cm (vật chứng bị cáo Đ dùng chống trả lực lượng thi hành công vụ).

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Lê Văn Đ phải chịu 200.000 đồng.

Bị cáo Lê Văn Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại chị Nguyễn Thị Y vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


67
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 35/2019/HS-ST ngày 14/11/2019 về tội trộm cắp tài sản và chống người thi hành công vụ  

Số hiệu:35/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện U Minh - Cà Mau
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 14/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về