Bản án 35/2019/HS-PT ngày 25/01/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 35/2019/HS-PT NGÀY 25/01/2019 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 25 tháng 01 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 248/2018/TLPT-HS ngày 14 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Thành Ph do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 70/2018/HS-ST ngày 01/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố C.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thành Ph (Ph Nét), sinh năm 1988 tại Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Tổ xx, khóm T, phường H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Văn Ng và bà Nguyễn Thị Thu Ng; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 30/01/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố C áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, trong thời gian 13 tháng, đang chấp hành thì bị khởi tố bắt tạm giam ngày 13/4/2018. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp (có mặt).

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Lê Anh D không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều tối ngày 07/01/2018, Nguyễn Thành Ph mượn 2.000.000 đồng của Nguyễn Minh L, sinh năm 1991, ngụ tổ x, khóm x, phường x để mua ma túy sử dụng. Sau khi mượn được tiền, Ph một mình chạy xe môtô đi gặp một người tên C (không xác định nhân thân) mua 1.000.000 đồng ma túy. Mua được ma túy, Ph chạy xe về nhà trọ không số của Nguyễn Lê Anh D thuê ở tại tổ xB, khóm x, phường x, thành phố C (gần khu vực quán cà phê K). Ph lấy một ít ma túy vừa mua được đổ vào nỏ (bình hút ma túy) để cùng với nhóm bạn là D, L, Nguyễn Thị Quỳnh Nh, Nguyễn Thành Đ, Lê Nguyễn Trung Ng sử dụng, số ma túy còn lại Ph để dưới bàn. Sau khi sử dụng ma túy xong, tất cả cùng ngủ tại phòng trọ.

Đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 08/01/2018, Ph lấy bịch ma túy dưới bàn tiếp tục đổ vào nỏ sử dụng cùng với D, Nh, Đ, L và Ng. Sau đó, Ng đi về những người còn lại tiếp tục sử dụng thì bị Công an Phường x kết hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành kiểm tra, lập biên bản bắt người quả tang lúc 09 giờ 30 phút cùng ngày, tại hiện trường thu giữ tang vật:

- Dưới bàn sử dụng ma túy phát hiện 02 bịch nylon màu trắng hàn kín, bên trong chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng (đây là ma túy còn lại sau khi sử dụng), tất cả được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu "A1".

- Trong nhà vệ sinh phát hiện trong túi sau bên trái quần Jean của D có 01 bịch nylon màu trắng hàn kín, bên trong chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu "A2".

- 01 bộ dụng cụ hút ma túy tự chế (gồm 01 chai nhựa màu trắng nắp vàng; 02 ống hút nhựa màu đen; 01 nỏ thủy tinh; 01 hột quẹt bằng kim loại); 01 con dao bằng kim loại (lưỡi màu trắng, cán màu đen); 02 ống hút nhựa màu đen; 02 đoạn ống hút nhựa được cắt xéo (dùng làm máng xúc ma túy); 03 đoạn ống hút; 03 bịch nylon màu trắng chưa qua sử dụng; 01 bịch nylon màu trắng đã qua sử dụng; 06 bịch nylon màu trắng hàn kín 03 cạnh đã qua sử dụng; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng; 01 đầu khò lửa dùng bình gas mini; 02 chai gas mini; 01 quần Jean màu đen; 01 điện thoại di động Iphone màu vàng; số IMEI: 354389069172897 của D dùng liên lạc mua bán ma túy.

Tại kết luận giám định số 18/KL-KTHS ngày 09/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận: Tinh thể rắn chứa trong 02 bịch nylon hàn kín, niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu "A1" đều là chất ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 1,0854gam; Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon hàn kín, niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu "A2" là chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,4922gam. Niêm phong tinh thể rắn ma túy còn lại sau giám định trong phong bì "A1" khối lượng 0,9703gam và trong phong bì "A2" khối lượng 0,4568gam, trả cho Cơ quan điều tra Công an thành phố C.

Qua điều tra chứng minh Nguyễn Thành Ph và Nguyễn Lê Anh D là những người nghiện ma túy, không có việc làm nên mua ma túy về sử dụng và bán lại kiếm lời, cụ thể như sau:

Lần 1: Khoảng 21 giờ ngày 06/01/2018, Nguyễn Minh Nh1 (Đen), sinh năm 1994 và Nguyễn Tuấn V (V Đen), sinh năm 1996 cùng ngụ ấp, xã T1 rủ nhau mua ma túy sử dụng. Nh1 dùng điện thoại sim số 01228.091.9xx gọi cho Nguyễn Lê Anh D sim số 0939.239.6xx hỏi mua thiếu 200.000 đồng ma túy, D đồng ý và hẹn giao dịch tại nhà trọ không số của D (gần khu vực quán cà phê K). Sau đó, V chạy xe Wave màu đỏ-đen chở Nh1 đến nhà trọ của D gõ cửa, D ra thấy Nh1 và V nên lấy 01 tép ma túy đưa qua khe cửa cho Nh1. Sau khi mua được ma túy, V cùng Nh1 đến khu đất trống gần bến đò D thuộc xã T1 cùng nhau sử dụng. Đến khi D bị bắt, Nh1 và V chưa trả cho D 200.000 đồng.

Lần 2: Khoảng 20 giờ, không nhớ ngày trong tháng 10/2017, Lê Nguyễn Trung Ng (Ng Hí), sinh ngày 01/02/2000, ngụ tổ 6x, khóm x, Phường x chạy xe Exciter màu xanh biển số 66P1-736. x của mình đến khu vực trước cổng Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp, chở theo Phạm Thái S (S Pô), sinh năm 1995, ngụ tổ 3x, khóm x, Phường x đến nhà trọ của Nguyễn Lê Anh D tại tổ 1x, ấp X, xã M, thành phố C để mua ma túy sử dụng. Gặp nhau, Ng đưa 200.000 đồng, D nhận tiền và kêu Ng với S đợi D đi lấy ma túy về giao.

D một mình lấy xe của Ng chạy đến nhà trọ "Tr" (khu vực cầu C) thuộc khóm M, phường M, thành phố C gặp Nguyễn Thành Ph mua 500.000 đồng ma túy, Ph nhận tiền và giao cho D01 bịch ma túy. Sau khi mua được ma túy, D chạy xe về nhà trọ của mình chiết nhỏ ra 01 tép nhỏ để lên bàn, Ng lại nhận. Sau khi giao dịch xong, D lấy một ít ma túy đổ vào nỏ sử dụng cùng với Ng và S, khi sử dụng hết phần ma túy trong nỏ thì Ng lấy tép ma túy của mình đổ vào cùng nhau sử dụng hết.

Lần 3: Khoảng 20 giờ, không nhớ ngày trong tháng 10/2017 (cách lần 2 khoảng 01 đến 02 ngày), Lê Nguyễn Trung Ng điện thoại cho Nguyễn Lê Anh D hỏi có ở nhà không để mua ma túy, D trả lời có nên Ng một mình chạy xe Exciter của mình đến nhà trọ của D thuộc tổ 1x, ấp x, xã M. Gặp nhau, Ng hỏi mua 200.000 đồng nhưng D yêu cầu Ng mua 01 tép ma túy giá 300.000 đồng, Ng đồng ý đưa cho D 300.000 đồng.

Sau khi nhận tiền, D mượn xe của Ng một mình chạy xe đến nhà trọ "Tr" gặp Nguyễn Thành Ph mua 500.000 đồng ma túy, Ph nhận tiền và giao cho D01 bịch ma túy. Sau đó, D chạy xe về nhà trọ của mình lấy bịch ma túy vừa mua được chiết ra 01 tép nhỏ để lên bàn, Ng lấy tép ma túy đem về sử dụng một mình.

Lần 4: Vào cuối tháng 11/2017, Lê Nguyễn Trung Ng điện thoại cho Nguyễn Thành Ph hỏi mua 300.000 đồng ma túy, Ph đồng ý và hẹn đến nhà trọ "Tr" để giao dịch. Sau đó, Ng một mình chạy xe Exciter của mình đến đưa cho Ph 300.000 đồng. Nhận tiền, Ph ném 01 tép ma túy xuống đất gần chỗ Ng đứng, Ng nhặt tép ma túy đem về sử dụng một mình.

Lần 5: Vào khoảng 04 giờ, không nhớ ngày trong tháng 11/2017, Cao Văn Thanh N (B Lít), sinh năm 1991, ngụ ấp T, xã T1 và Lương Thanh H, sinh năm 1997, ngụ tổ X, khóm X, Phường X rủ nhau mua ma túy sử dụng. N điện thoại vào sim số 0939.239.6xx của Nguyễn Lê Anh D hỏi mua 300.000 đồng ma túy, D đồng ý và hẹn đến nhà trọ "T" trên đường P, tổ 3x, khóm X, phường X, thành phố C để giao dịch. Khoảng 20 phút sau, N kêu H lấy xe Wave màu bạc biển số 59Y-016.6X chở N đến điểm hẹn. Đến nơi, N và H đi vào phòng gặp D để 01 tép ma túy trên bàn, N nhận tép ma túy và kêu thế chấp 02 con gà đá khi nào có tiền đem đến trả chuộc lại, D không đồng ý mà cho N và H thiếu nợ 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, N và H chạy xe về trại nuôi gà của N thuộc ấp T, xã T1 sử dụng. Đến nay, N và H chưa trả tiền mua ma túy cho D.

Nguồn ma túy mà D có bán cho N và H là trước đó khoảng 02 ngày, D mua của Nguyễn Thành Ph 01 bịch ma túy “12 số” giá 1.000.000 đồng tại nhà trọ "T", D cất giữ để sử dụng và khi nào có người hỏi mua thì chiết ra bán lại kiếm lời.

Lần 6: Vào buổi chiều ngày 25/11/2017, Nguyễn Lê Anh D một mình chạy xe môtô đến nhà trọ "Tr" gặp Nguyễn Thành Ph mua 600.000 đồng ma túy, Ph nhận tiền và giao cho D01 bịch ma túy. Sau khi mua được ma túy, D về nhà trọ tại tổ 1x, ấp X, xã M lấy một ít sử dụng, phần ma túy còn lại D cất giấu khi nào có người hỏi mua thì chiết ra bán lại kiếm lời.

Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Phạm Chiêu V1, sinh năm 1998, ngụ tổ 2x, khóm T, phường H gọi điện thoại cho D hỏi mua 300.000 đồng ma túy, D đồng ý và hẹn đến nhà trọ D đang ở để giao dịch. V1 một mình chạy xe môtô đến, gặp nhau V1 đưa cho D 120.000 đồng và xin thiếu nợ 180.000 đồng, D đồng ý nhận tiền rồi giao cho V1 01 tép ma túy đem về sử dụng một mình Khoảng 03 ngày sau, V1 đã trả cho D số tiền 180.000 đồng còn thiếu nợ.

Lần 7: Khoảng 22 giờ ngày 01/12/2017, Phạm Chiêu V1 chạy xe môtô biển số 66P1-064.4X đến quán cà phê p rước Nguyễn Chí T2 (T2 Phố Cổ), sinh năm 1992, ngụ khóm T, phường H đến nhà trọ của Nguyễn Lê Anh D tại tổ 1x, ấp X, xã M để sử dụng ma túy. Đến nơi, T2 và V1 vào khóa cửa rào lại, T2 đi vào trong phòng có D, Nguyễn Tuấn V (V Đen) và người tên V Trắng đang ngủ. T2 thấy bình hút ma túy còn một ít ma túy trong nỏ nên lấy ra sử dụng với V Đen và kêu V1 vào nhà cùng sử dụng, lúc này D đi tắm. Sau khi tắm xong, V1 hỏi D mua thiếu 300.000 đồng ma túy, D đồng ý nên lấy 01 tép ma túy giao cho V1. Sau khi mua được ma túy, V1 và T2 ra về, khi đi đến trước cổng rào, thấy lực lượng Công an xã M đến kiểm tra nhà trọ nên V1 nhanh chóng ném bỏ tép ma túy. Đến nay, V1 chưa trả tiền cho D.

Lần 8: Vào buổi chiều không nhớ ngày trong tháng 11/2017, Phạm Chiêu V1 một mình chạy xe môtô đến nhà trọ "Tr" gặp Nguyễn Thành Ph hỏi mua 200.000 đồng ma túy, Ph đồng ý nhận 200.000 đồng và giao cho V1 01 tép ma túy. Sau khi giao dịch xong, V1 thấy trong phòng có bình hút ma túy nên lấy tép ma túy của mình đổ vào nỏ thủy tinh cùng Ph sử dụng hết.

Lần 9: Khoảng 19 giờ, không nhớ ngày trong tháng 11/2017, Nguyễn Vĩnh A (M), sinh năm 1991, ngụ tổ 2x, khóm T, phường H điện thoại cho Nguyễn Thành Ph hỏi mua 200.000 đồng ma túy, Ph đồng ý nên hỏi "Đi xuống đây lấy hay anh đem lên giùm", A trả lời không có xe nên hai bên hẹn đến Cầu T thuộc phường H để giao dịch. Khoảng 40 phút sau, Ph một mình mượn xe môtô chạy đến điểm hẹn rồi điện thoại cho A đi bộ ra. Gặp nhau, A đưa 200.000 đồng, Ph nhận tiền rồi giao cho A 01 tép ma túy đem về sử dụng.

Lần 10: Khoảng 21 giờ, cách lần 9 một ngày, trong tháng 11/2017, cũng với cách thức và địa điểm giao dịch như lần 9, Nguyễn Thành Ph đã bán cho A 01 tép ma túy giá 200.000 đồng.

Lần 11: Khoảng 12 giờ, không nhớ ngày trong tháng 11/2017, Võ Hoàng Nh2 (Ốc), sinh năm 1995, ngụ tổ 1x, ấp H, xã A điện thoại cho Nguyễn Thành Ph hỏi mua 500.000 đồng ma túy, Ph đồng ý và nói chờ chút. Sau đó, Nh2 một mình chạy xe môtô đến nhà Nguyễn Trung Th (H), sinh năm 1989, trên tuyến Quốc lộ XX thuộc ấp X, xã M, Nh2 vào phòng ngủ nói chuyện với Th, một lúc sau Ph cũng đến vào phòng gặp Nh2 và Th. Tại đây, Nh2 đưa 500.000 đồng, Ph nhận tiền và giao cho Nh2 01 tép ma túy cất giữ. Sau khi giao dịch xong, Ph lấy 01 tép ma túy ra sử dụng cùng với Nh2 và Th.

Lần 12: Khoảng 15 giờ, không nhớ ngày trong tháng 11/2017, Võ Hoàng Nh2 và Nguyễn Trung Th hùn tiền mua 01 tép ma túy 500.000 đồng. Sau đó, Th điện thoại cho Nguyễn Thành Ph hỏi mua ma túy, Ph đồng ý và hẹn đến nhà trọ "Tr" để giao dịch. Th chạy xe môtô chở Nh2 đến nhà trọ vào phòng của Ph, rồi cả ba cùng nhau sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng xong, Thoại đưa 500.000 đồng, Ph nhận tiền và giao cho Th 01 tép ma túy đem về cùng Nh2 sử dụng.

Lần 13: Khoảng 18 giờ, không nhớ ngày cuối tháng 10/2017, Hồ Mộng Tr (Lan), sinh năm 1989, ngụ tổ 2x, khóm X, Phường X điện thoại cho Nguyễn Thành Ph hỏi mua 700.000 đồng ma túy, Ph đồng ý và hẹn Tr đến quán cà phê C trên đường T (gần nhà trọ "T") để giao dịch, lúc này Ph đang ở nhà trọ "T" với Nguyễn Lê Anh D, nên Ph nhờ D khi nào Tr đến thì D đem ma túy ra giao cho Tr rồi nhận tiền vào đưa cho Ph. Sau đó, Tr một mình chạy xe Wave màu xanh biển số 66K2-727X đến điểm hẹn và điện thoại thông báo cho Ph biết, Ph đưa 01 bịch ma túy cho D đem ra giao cho Tr, Tr trả cho D 700.000 đồng đem vào đưa lại cho Ph.

Lần 14: Khoảng 21 giờ, không nhớ ngày trong tháng 11/2017, Hồ Mộng Tr điện thoại cho Nguyễn Thành Ph hỏi đổi điện thoại hiệu HTC lấy ma túy về sử dụng, Ph kêu Tr đem điện thoại đến xem rồi mới trả lời. Sau đó, Tr một mình đến nhà trọ "Tr" đưa điện thoại cho Ph xem. Sau khi xem xong, Ph đồng ý lấy điện thoại, đổi lại Ph giao cho Tr 01 tép ma túy trị giá 400.000 đồng đem về sử dụng.

Lần 15: Khoảng 22 giờ, cách lần 14 ba ngày trong tháng 11/2017, Hồ Mộng Tr điện thoại cho Nguyễn Thành Ph hỏi mua ma túy, Ph đồng ý và hẹn Tr đến phòng của Ph tại nhà trọ "Tr". Sau đó, Tr một mình chạy xe Wave biển số 66K2-727X đến phòng trọ của Ph gặp Nguyễn Chí T2 (T2 Phố Cổ) và người sống chung với Ph là Bùi Thị Thu S (L). Khoảng 05 phút sau, Ph đi về phòng trọ gặp Tr hỏi "lấy bao nhiêu", Tr đưa 600.000 đồng, Ph nhận tiền và giao cho Tr 01 bịch ma túy đem về sử dụng.

Lần 16: Khoảng 21 giờ, không nhớ ngày trong tháng 06/2017, Nguyễn Hữu S1 (Cọc Cạch), sinh năm 1986, ngụ ấp Th, xã M1, huyện C, tỉnh An Giang điện thoại cho Nguyễn Thành Ph hỏi mua 400.000 đồng ma túy, Ph đồng ý và hẹn giao dịch tại nhà trọ "M" thuộc tổ 2x, ấp X, xã M nơi S1 đang ở. Sau đó, Ph một mình chạy xe môtô đến điểm hẹn, gặp nhau S1 đưa 400.000 đồng, Ph nhận tiền rồi đưa cho S1 01 tép ma túy. Sau khi giao dịch xong, S1 lấy tép ma túy đổ vào nỏ và rủ Ph cùng nhau sử dụng.

Tại Cơ quan điều tra, Ph và D thừa nhận hành vi của mình như đã nêu trên, phù hợp với lời khai của những người mua ma túy, biên bản xét nghiệm ma túy, biên bản nhận dạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Ngày 12/9/2018, ông Nguyễn Văn Ng là cha ruột Ph tự nguyện giao nộp 6.600.000 đồng là số tiền do Ph bán ma túy mà có.

Tại bản án số 70/2018/HS-ST ngày 01/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố C đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thành Ph và Nguyễn Lê Anh D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Ph 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2018.

Căn cứ Điều 117 Luật xử lý vi phạm hành chính, miễn chấp hành phần còn lại đối với bị cáo Ph của Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 02/2018/QĐ-TA ngày 30/01/2018 của Tòa án nhân dân thành phố C.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 194; điểm p, o khoản 1 khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Anh D 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2018.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 12 tháng 11 năm 2018, bị cáo Nguyễn Thành Ph có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát Tỉnh phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm quy kết bị cáo Nguyễn Thành Ph phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Xét mức án 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên là thỏa đáng với tính chất, mức độ mà hành vi của bị cáo gây ra. Sau khi án sơ thẩm tuyên bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp thêm tình tiết nào mới để làm căn cứ xem xét cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên phần Quyết định của Bản án sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Thành Ph.

Trong phần tranh luận, bị cáo Ph không ý kiến tranh luận chỉ mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, hình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thành Ph đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Các bị cáo Nguyễn Thành Ph và Nguyễn Lê Anh D là các đối tượng nghiện ma túy. Để có tiền sử dụng ma túy, các bị cáo mua ma túy về chia nhỏ ra bán lại cho các đối tượng nghiện khác để hưởng lợi. Trong khoảng thời gian từ tháng 06/2017 đến tháng 11/2017, bị cáo Nguyễn Thành Ph đã 13 lần bán ma túy cho các đối tượng D, Ng, V1, A, Nh1, Th, Tr, S1 thu lợi số tiền 6.600.000 đồng.

[3] Đối với hành vi của bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bản thân bị cáo là người đã trưởng thành, bị cáo phải nhận thức được ma túy có tác hại rất xấu đến sức khỏe và sự phát triển của con người và là nguyên nhân dẫn đến các hành vi tiêu cực khác, thậm chí làm phát sinh tội phạm trong xã hội. Do đó, Nhà nước ta đã có chủ trương nghiêm cấm mua bán, sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy để bảo vệ sức khỏe cho con người, đảm bảo môi trường xã hội phát triển lành mạnh, không còn vấn nạn ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự nên cần phải có mức hình phạt tương xứng, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[5] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đến điều kiện hoàn cảnh phạm tội, vai trò của bị cáo trong vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy, mức án 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên là phù hợp với tính chất, mức độ mà hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới để Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.

[6] Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thành Ph, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.

[7] Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thành Ph. Giữ nguyên phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thành Ph.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành Ph phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành Ph 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2018.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thành Ph phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

140
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 35/2019/HS-PT ngày 25/01/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:35/2019/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đồng Tháp
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:25/01/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về