Bản án 35/2019/HNGĐ-ST ngày 13/05/2019 về ly hôn giữa anh B và chị N

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 35/2019/HNGĐ-ST NGÀY 13/05/2019 VỀ LY HÔN GIỮA ANH B VÀ CHỊ N

Ngày 13 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 46/2019/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn, con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2019/QĐXX-ST ngày 13 tháng 4 năm 2019, giữa:

Nguyên đơn: Anh Lê Xuân B sinh năm 1974 (vắng mặt)

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị N sinh năm 1984 (vắng mặt)

Đều địa chỉ: Khu V, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lê Xuân Bàn trình bày trong bản tự khai: Anh và chị Nguyễn Thị Nhung kết hôn tháng 11/2012, có đăng ký kết hôn tại thị trấn Lục Nam, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở được tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, cưới xong anh, chị về chung sống với nhau ngay và đã có một con chung. Đến tháng 06/2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xáy ra mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và phát triển kinh tế gia đình dẫn đến vợ chồng luôn xảy ra xô xát và không bảo được nhau, việc của ai người đó làm, vợ chồng sống ly thân từ nhiều năm nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Nhung.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Lê Công Minh sinh ngày 24/9/2013. Hiện nay đang ở với chị Nhung, cháu phát triển bình thường. Nay ly hôn anh đề nghị Tòa án giao cho chị Nhung được tiếp nuôi. Nếu chị Nhung yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, anh cũng nhất trí.

Về tài sản, công nợ: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Do công việc bận anh xin được vắng mặt tại các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ, phiên hòa giải, phiên tòa xét xừ vụ án.

Bị đơn chị Nguyễn Thị Nhung xác nhận một phần lời khai trên và trình bày trong bản tự khai: Chị và anh Bàn kết hôn trên cơ sở tự nguyện hợp pháp. Ngay sau đó vợ chồng về chung sống và hòa thuận đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Bàn không chịu làm ăn, thường xuyên tham gia chơi bời cờ bạc, đánh đề, ngoài ra còn quan hệ bất chính với người khác, không quan tâm đến chị, về còn gây sự với chị dẫn đến vợ chồng luôn xảy ra xô xát, mâu thuẫn trầm trọng. Nay anh Bàn xin ly hôn chị xét thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn, chị không nhất trí.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Lê Công Minh sinh ngày 24/9/2013. Hiện nay đang ở với chị, cháu phát triển bình thường. Nay ly hôn chị đề nghị Tòa án được trực tiếp nuôi, không yêu cầu anh Bàn cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, công nợ: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa hôm nay chị vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự, anh Lân, chị Chiêm chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, các Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228, Điều 271, Điều 272 và Điều 273 BLTTDS, chấp nhận cho ly hôn giữa anh Bàn và chị Nhung.

Về nuôi con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Nhung trực tiếp nuôi cháu Lê Công Minh sinh ngày 24/9/2013.

Án phí: Anh Bàn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của KSV, HĐXX nhận định:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa lần 1, lần 2 cho các đương sự. Nhưng tại phiên tòa anh Bàn có đơn xin xét xử vắng mặt, còn chị Nhung vắng mặt không lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228 BLTTDS, HĐXX đưa vụ án ra xét xử.

[2] Về nội dung: Anh Lê Xuân Bàn kết hôn với chị Nguyễn Thị Nhung ngày 26/11/2012 trên cơ sở tự nguyện hợp pháp. Cưới xong chị Nhung về chung sống với anh Bàn ngay và hòa thuận đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong phát triển kinh tế gia đình dẫn đến vợ chồng không quan tâm gì đến nhau, việc của ai người đó làm, vợ chồng sống không có hạnh phúc. Kể từ khi xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay anh Bàn xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên thiết tha xin được ly hôn với chị Nhung. HĐXX thấy tình cảm vợ chồng giữa anh Bàn và chị Nhung đã căng thẳng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó có căn cứ cho anh Bàn và chị Nhung được ly hôn theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung Lê Công Minh sinh ngày 24/9/2013. Hiện nay đang ở với chị Nhung, cháu phát triển bình thường. Nay ly hôn chị Nhung đề nghị Tòa án được trực tiếp nuôi, không yêu cầu anh Bàn cấp dưỡng nuôi con, anh Bàn cũng nhất trí để chị Nhung trực tiếp nuôi, xét như vậy là phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn anh Bàn được quyền thăm nom con, không ai được cản trở anh Bàn thực hiện quyền này.

[4] Về tài sản và công nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí: Anh Bàn phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228, Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 6; Điều 24, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:

1.Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Lê Xuân Bàn và chị Nguyễn Thị Nhung.

2. Về con chung: Giao cho chị Nhung nuôi con Lê Công Minh sinh ngày 24/9/2013. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn anh Bàn có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở anh Bàn thực hiện quyền này.

3. Về án phí: Anh Bàn phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng anh đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số AA/2017/0003771 ngày 15/2/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Án xử công khai sơ thẩm./


27
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 35/2019/HNGĐ-ST ngày 13/05/2019 về ly hôn giữa anh B và chị N

Số hiệu:35/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lục Nam - Bắc Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:13/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về