Bản án 35/2018/HS-PT ngày 12/03/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN  TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 

BẢN ÁN 35/2018/HS-PT GÀY 12/03/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 12 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế  (11 Tôn Đức Thắng, thành phố Huế)  xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2018/TLPT-HS ngày 18/01/2018 đối với các bị cáo Nguyễn Văn V và Lê Quang H do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 26/2017/HSST ngày 12/12/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà.

Các bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Văn V  (tên gọi khác: V Cò); giới tính: Nam, sinh ngày 03/8/1965; tại Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn ĐM, xã HT, thị xã HT, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 07/12; con ông Nguyễn Văn C  (đã chết)  và bà Mai Thị T  (đã chết); vợ là Bùi Thị N; con: có 06 con  (Lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1995); tiền án: Không; tiền sự: có 01  (Tháng 6/2016, bị Công an thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”).

Quá trình nhân thân:

- Năm 1993 bị Tòa án nhân dân huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 08 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và “Cố ý gây thương tích”.

- Năm 1994, bị Tòa án nhân dân huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

- Năm 1998, bị Tòa án nhân dân huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Bị bắt tạm giam ngày 06/7/2017. Có mặt.

2. Lê Quang H  (tên gọi khác: Cột); giới tính: Nam, sinh năm: 1979; nơi cư trú: Thôn ĐM, xã HT, thị xã HT, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Thợ mộc; Trình độ văn hóa: 03/12; Con ông  (không rõ), con bà Lê Thị L; vợ là Lê Thị H; con: Có 03 con  (lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2008); Tiền án, tiền sự: Không.

Quá trình nhân thân:

- Năm 2014, bị Công an thị xã Hương Trà xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi đốt thực bì làm cháy lan rừng.

Bị bắt tạm giam ngày 09/8/2017; đến ngày 10/11/2017 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

Ngoài ra, còn có bị cáo Bùi Ngọc T không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có ý định lấy cắp gỗ thông của UBND xã HT tại tiểu khu 124, thôn ĐM, xã HT về làm nhà nên khoảng 07 giờ 30 phút ngày 06 tháng 4 năm 2017, Nguyễn Văn V điện thoại cho Lê Quang H với mục đích nhờ H đi cưa trộm cây thông tại khu vực rừng thông nói trên.

Sau khi nghe điện thoại và đồng ý đi cưa trộm gỗ thông cho V, Lê Quang H thấy Bùi Ngọc T đi ngang qua nên rủ T cùng đi. H mang theo một cái cưa máy cầm tay, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 49P6-2664 chở T đến khu vực rừng thông tại tiểu khu 124. Khi đến nơi T biết số thông này là của UBND xã HT nhưng vẫn cùng H cưa trộm. H dùng cưa trực tiếp cưa cây còn T dọn dẹp, đo đạc và nâng đỡ cây cho H.

Khi cưa đến cây thứ ba thì lưỡi cưa bị kẹt nên H nói T về lấy cúp để bẫy lưỡi cưa ra. Sau khi lấy được lưỡi cưa ra cả hai tiếp tục cưa thêm khoảng ba cây nữa thì gặp Bùi Ngọc Mong là người cạo nhựa thông thuê đi đến hỏi vì sao cưa thông. Lúc này, H và T sợ nên gọi điện thoại cho V, sau đó V lên khu vực H và T đang cưa thông và bảo cứ tiếp tục cưa, đồng thời chọn cây to mà cưa.

Sau khi V đi về, H và T tiếp tục cưa, khi cưa được 11 cây T gọi điện thoại thông báo cho V. Nghe V nói cưa thêm vài cây nữa nên H và T cưa thêm hai cây, tổng cộng 13 cây, cưa ra thành đoạn hai mét tổng cộng 64 khúc.

Cưa xong, H và T đi về thấy V đang ngồi trong quán bên đường nên vào nói cho V biết đã cưa xong thì V nói chiều đi bốc gỗ thông. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, V điện thoại cho anh Nguyễn Kim Th hỏi thuê xe ô tô chở gỗ thông, Th đồng ý và rủ Trần Đức Q đi cùng. Khoảng 30 phút sau, anh Nguyễn Ngọc T1 đi ngang qua thấy V nên ghé vào thì V nói “ngồi đó tí đi bốc cây”. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Th và Q đi xe ô tô tải biển kiểm soát 75C-066.59 đến cùng T1, T và H đi lên bốc gỗ thông. Khi lên khu vực rừng trên, H điện thoại cho Nguyễn Văn Đ nói lên bốc gỗ thông cho V thì Đ đồng ý. Khi H, T, T1, Đ, Thuận và Q đang bốc gỗ thông lên xe ô tô biển kiểm soát 75C-066.59 thì bị Công an xã Hương Thọ, thị xã Hương Trà phát hiện bắt giữ Th và Đ cùng tang vật, còn những người khác đã bỏ chạy.

Tại bản kết luận giám định ngày 19/5/2017, Hội đồng giám định tư pháp trong lĩnh vực lâm nghiệp thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận:

- Vị trí và loại rừng: Vị trí 13 cây thông bị cưa trộm thuộc khoảnh 2, 4 tiểu khu 124, xã HT, thị xã HT, tỉnh Thừa Thiên Huế. Theo quy hoạch ba loại rừng, khu vực này thuộc đối tượng rừng sản xuất.

- Khối lượng gỗ bị thiệt hại: Khối lượng gỗ bị thiệt hại của 13 cây thông:11,056m3. Trong đó khối lượng gỗ tròn của 13 cây thông: 10,874m3.

Phân loại khối lượng gỗ tròn: Khối lượng gỗ tròn đã bị cháy khô tại hiện trường: 2,112m3. Khối lượng gỗ tròn đã được chuyển về UBND xã HT: 8,762m3. Trong đó tổng khối lượng gỗ tròn có vanh >70cm: 7,969m3.

Tại bản kết luận số 30/KL-HĐĐGTS ngày 05/6/2017, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Hương Trà kết luận: 7,969m3 gỗ thông vanh > 70cm: 9.526.800 đồng, 2,905m3 gỗ thông vanh < 70cm: 1.743.000 đồng; 0,183m3 ngọn thông  (cũi): 26.000 đồng. Tổng giá trị 11.331.800 đồng.

Vật chứng vụ án gồm:

- Vật chứng đã trả lại cho chủ sở hữu:

+ 64 khúc gỗ thông và 13 khúc ngọn.

+ Xe mô tô biển kiểm soát 75D1-083.21, xe mô tô biển kiểm soát 49P6-2664, xe mô tô biển kiểm soát 75H7-1117 và xe ô tô biển kiểm soát 75C-066.59.

+ 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 75C-066.59; 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Nguyễn Kim Th.

- Vật chứng còn tạm giữ:

+ 01 cưa máy cầm tay, 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu xanh đen của Lê Quang H.

+ 01 điện thoại di động hiệu hiệu Nokia X2 màu đen của Nguyễn Văn V.

+ 01 điện thoại di động hiệu hiệu Mobistar màu trắng cam của Bùi Ngọc T.

- 01 chiếc cúp  (rìu)  Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Hương Trà đã tổ chức xác minh, truy tìm nhưng không tìm thấy.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện theo ủy quyền của UBND xã HT đã nhận lại số tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu gì khác.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 26/2017/HSST ngày 12/12/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà đã quyết định:

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Nguyễn Văn V 01  (một)  năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 06/7/2017.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1, 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự; Xử phạt: Lê Quang H 06  (sáu)  tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời gian chấp hành hình phạt kể từ ngày bắt giam thi hành án, nhưng được trừ vào thời hạn mà bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 09/8/2017 đến ngày 10/11/2017.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Bùi Ngọc T 04  (bốn)  tháng 03  (ba)  ngày tù, tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 15/12/2017, bị cáo Nguyễn Văn V có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 18/12/2017, bị cáo Lê Quang H có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đề nghị: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn V 01 năm tù và Lê Quang H 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là đúng người, đúng tội, không nặng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn V và Lê Quang H; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn V và Lê Quang H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”  là đúng người, đúng tội. Các bị cáo không bào chữa, tranh luận. Bị cáo Nguyễn Văn V xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo Lê Quang H xin được hưởng án treo..

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đã có đủ cơ sở để xác định: Do cần gỗ thông để làm nhà nên vào ngày 06 tháng 4 năm 2017 Nguyễn Văn V đã điện thoại cho Lê Quang H với mục đích nhờ H đi cưa trộm cây thông tại khu vực rừng thông nói trên. H đồng ý đi cưa trộm gỗ thông cho V. Lê Quang H thấy Bùi Ngọc T đi ngang qua nên rủ T cùng đi. H mang theo một cái cưa máy cầm tay, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 49P6-2664 chở T đến khu vực rừng thông tại tiểu khu 124. Khi đến nơi T biết số thông này là của UBND xã HT nhưng vẫn cùng H cưa trộm. H dùng cưa trực tiếp cưa cây còn T dọn dẹp, đo đạc và nâng đỡ cây cho H. Tổng số gỗ thông bị cưa trộm 13 cây, có giá trị 11.331.800 đồng.

Với hành vi trên, Tòa án nhân dân thị xã Hương kết án các bị cáo Nguyễn Văn V, Lê Quang H và Bùi Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn V và Lê Quang H, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm, thấy rằng:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo đều có nhân thân xấu, vì vậy cần xử lý thích đáng để giáo dục và phòng ngừa chung. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”  là đúng mức, đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của các bị cáo Nguyễn Văn V, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đối với bị cáo Lê Quang H, đã dùng cưa trực tiếp cưa trộm toàn bộ 13 cây thông có giá trị 11.331.800 đồng, bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đốt thực bì làm cháy lan rừng. Án sơ thẩm xử phạt bị cáo 06

(sáu)  tháng tù và không cho bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Án phí hình sự phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Văn V và Lê Quang H phải chịu theo luật định.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn V và Lê Quang H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự; xử phạt: Nguyễn Văn V01  (một)  năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 06/7/2017.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1, 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự; xử phạt: Lê Quang H 06  (sáu)  tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt kể từ ngày bắt giam thi hành án, nhưng được trừ vào thời hạn mà bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 09/8/2017 đến ngày 10/11/2017.

2. Án phí hình sự phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Văn V và Lê Quang H mỗi người phải chịu 200.000đ.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


293
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 35/2018/HS-PT ngày 12/03/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:35/2018/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thừa Thiên Huế
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 12/03/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về