Bản án 34/2020/HNGĐ-ST ngày 11/09/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI

BẢN ÁN 34/2020/HNGĐ-ST NGÀY 11/09/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 11 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 163/2020/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2020 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2020/QĐST-HNGĐ ngày 26/8/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị T - Sinh năm: 1979; Địa chỉ: Thôn T, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc K - Sinh năm: 1977;

Địa chỉ: Tổ dân phố S, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 16/7/2020 và bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị Trần Thị T trình bầy:

Chị và anh Nguyễn Ngọc K đăng ký kết hôn ngày 17/12/2018 tại UBND thị trấn Phong Hải, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Anh chị chung sống hòa thuận đến khoảng tháng 6/2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Chị và anh K đều kết hôn lần thứ hai và cả hai đều có con riêng nên có nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống gia đình không hòa giải được. Do mâu thuẫn trầm trọng từ đầu năm 2020 nên chị và anh K đã sống ly thân từ tháng 3/2020 đến nay. Bản thân chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không khắc phục được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Nguyễn Ngọc K.

Ti bản tự khai ngày 28/7/2020, anh Nguyễn Ngọc K trình bầy:

Anh và chị Trần Thị T đăng ký kết hôn ngày 17/12/2018 tại UBND thị trấn Phong Hải, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Anh chị kết hôn tự nguyện và chung sống đến giữa năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm vì anh và chị T đều kết hôn lần thứ hai, hiện tại hai bên đều phải chăm lo con riêng, đôi khi do công việc quá nhiều, vợ chồng không chia sẻ được với nhau nên dẫn đến cãi nhau, chị T không hiểu và không thông cảm cho anh. Đầu năm 2020 thì anh chị ly thân, chị T về nhà riêng sinh sống và không về nhà sống cùng anh. Anh đã động viên khuyên bảo nhiều lần nhưng chị T không nghe. Quá trình giải quyết vụ án thì anh K có ý kiến là trường hợp chị T kiên quyết xin ly hôn thì anh cũng đồng ý, tuy nhiên tại phiên tòa thì anh không đồng ý ly hôn, anh mong muốn vợ chồng khắc phục mâu thuẫn, đoàn tụ gia đình, anh đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định.

Về con chung: Chị T và anh K đều xác nhận quá trình chung sống không có con chung.

Về tài sản chung: Chị T và anh K xác nhận không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Chị T và anh K đều xác nhận không nợ ai và không cho ai vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống K hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự theo quy định. Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai các tài liệu, chứng cứ và hòa giải, tuy nhiên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Thị T khởi kiện xin ly hôn với anh Nguyễn Ngọc K. Các đương sự đều có hộ khẩu thường trú tại thị trấn Phong Hải, huyện Bảo Thắng. Vì vậy đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh K là hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn do tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm, không chia sẻ được với nhau nên xẩy ra cãi nhau cuộc sống chung không hạnh phúc. Anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2020 đến nay, chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn, anh K có nguyện vọng đoàn tụ gia đình. Tuy nhiên anh chị đều xác nhận quá trình chung sống có mâu thuẫn, đại diện thôn đã đến hòa giải nhưng anh chị không khắc phục được mâu thuẫn. Chị T đã có đơn và được địa phương xác nhận anh chị có mâu thuẫn là đúng sự thật. Vì vậy việc chị T xin ly hôn với anh K là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định, quá trình giải quyết vụ án thì anh K đều có mặt, tuy nhiên khi mở phiên tòa xét xử vụ án thì anh K vắng mặt lần thứ nhất nên Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, anh K có mặt và trình bầy ý kiến tại phiên tòa theo quy định.

[3] Về con chung: Quá trình chung sống anh chị không có con chung nên không yêu cầu giải quyết.

[4] Về tài sản chung và công nợ chung: Chị T và anh K đều không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, anh chị không nợ ai và không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1. Xử cho chị Trần Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc K.

2. Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0002497 ngày 20/7/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; Chị Trần Thị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, bị đơn. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


2
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 34/2020/HNGĐ-ST ngày 11/09/2020 về ly hôn

Số hiệu:34/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bảo Thắng - Lào Cai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:11/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về