Bản án 34/2018/HNGĐ-ST ngày 29/06/2018 về ly hôn, con chung

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI

BẢN ÁN 34/2018/HNGĐ-ST NGÀY 29/06/2018 VỀ LY HÔN, CON CHUNG

Ngày 29 tháng 6 năm 2018 tại nhà văn hóa thôn L, xã T, huyện Y B, tỉnh Yên Bái, Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 107/2018/TLST - HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2018 về việc ly hôn, con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2018, Thông báo mở lại phiên tòa số 18/TB-TA ngày 19 tháng 6 năm 2018, giữa:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị K D, sinh năm 1995, có mặt; Trú tại thôn T, xã Q, huyện T Y, tỉnh Yên Bái.

Bị đơn: Anh Nguyễn Ng S, sinh năm 1995, vắng mặt. Trú tại thôn T xã M, huyện Y B, tỉnh Yên Bái.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 23- 4- 2018 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là chị Trần Thị K D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi kết hôn với anh Nguyễn Ng S trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mông S, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái vào ngày 22 tháng 8 năm 2014. Vợ chồng chung sống đến năm2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, thường xuyên cãi vã, chúng tôi đã hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Chúng tôi đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2016 đến nay, không ai còn quan tâm đến ai nữa. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi ly hôn anh Nguyễn Ng S.

Về con chung : Tôi và anh Nguyễn Ng S có hai con chung là Nguyễn NgọcK Ng sinh ngày 29 tháng 12 năm 2014 và Nguyễn Trần L K sinh ngày 15 tháng 11 năm 2016. Hiện nay cháu Nguyễn Trần L K đang ở cùng tôi ở thôn T, xã Q, huyện T Y, tỉnh Yên Bái, còn cháu Nguyễn Ngọc K Ng đang ở cùng anh Nguyễn Ng S ở thôn T, xã M, huyện Y B, tỉnh Yên Bái.

Khi ly hôn tôi xin nhận nuôi cháu Nguyễn Trần L K, còn cháu Nguyễn Ngọc K Ng và để cho anh Nguyễn Ng S trực tiếp nuôi dưỡng; không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung : Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Nguyễn Ng S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa:

Chị Trần Thị K D vẫn giữ nguyên nội D yêu cầu như trên. Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo ph.áp luật của Thẩm phán, Thư ký, các thành viên khác trong Hội đồng xét xử và nguyên đơn trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội D: Kiểm sát viên đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 56; các Điều81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 - 12 -2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị K D về việc ly hôn và con chung, tuyên án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tạiphiên tòa và căn cứ vào ý kiến của đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhậnđịnh:

 [1] Về thủ tục tố tụng:

Anh Nguyễn Ng S đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận không khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do.

Anh Nguyễn Ng S vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do chính đáng nên Tòa án xét xử vắng mặt anh S là đúng quy định tại điểm b khoản 2Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

 [2] Xét yêu cầu của chị Trần Thị K D:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị K D và anh Nguyễn Ng S có đăng ký kết hôn trên tinh thần tự nguyện của đôi bên nên quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị K D và anh Nguyễn Ng S là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã phân tích, động viên chị Trần Thị K D đoàn tụ gia đình với anh Nguyễn Ng S nhưng chị Trần Thị K D vẫn kiên quyết xin ly hôn vì xác định tình cảm vợ chồng không còn và thực tế đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị K D là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được chấp nhận.

Về con chung: Xét yêu cầu của chị Trần Thị K D về việc anh S, chị D mỗi người nuôi một con như chị D trình bày là phù hợp với hoàn cảnh thực tế của các bên nên cần chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết, Bị đơn không có ý kiến đề nghị gì nên không xét.

[3] Về án phí: Chị Trần Thị K D phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

[4] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình,khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 -12- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quyđịnh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị K D được ly hôn anh Nguyễn Ng S.

2. Về con chung: Giao cho chị Trần Thị K D trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trần L K sinh ngày 15 tháng 11 năm 2016; anh Nguyễn Ng S trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc K Ng sinh ngày 29 tháng 12 năm 2014.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không aiđược cản trở người đó thực hiện quyền này.

3. Về án phí: Chị Trần Thị K D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Trần Thị K D đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2013/05442 ngày 23 tháng 4 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Chị Trần Thị K D đã nộp đủ án phí.

Án xử sơ thẩm công khai, chị Trần Thị K D có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Ng S vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30Luật thi hành án dân sự.


104
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 34/2018/HNGĐ-ST ngày 29/06/2018 về ly hôn, con chung

Số hiệu:34/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Bình - Yên Bái
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 29/06/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về