Bản án 335/2019/HS-ST ngày 26/11/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK

BẢN ÁN 335/2019/HS-ST NGÀY 26/11/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 26/11/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 313/2019/HSST ngày 13/11/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 317/2019/QĐXXST-HS ngày 15/11/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lý Anh K; tên gọi khác: Không; Sinh năm 1989; tại tỉnh Đăk Lăk. Nơi đăng ký HKTT: Số xx đường X, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Phật giáo. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Tiền án, tiền sự: Không. Con ông: Lý A X và con bà: Nguyễn Thị Thùy L. Bị cáo có vợ là: Lê Thị Mai L – sinh năm 1993 (Đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2009.

Về nhân thân: Ngày 04/4/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiên bắt buộc tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk thời hạn là 24 tháng. Ngày 25/11/2017, chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuột từ ngày 05/9/2019 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Chị Nguyễn Thị Nghi U – sinh năm: 1997 (Có mặt)

Nơi đăng ký HKTT: Số xx đường L, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk.

Chỗ ở hiện nay: Hẻm xx đường Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Tạ Văn T – sinh năm: 1984 (Vắng mặt).

Trú tại: Số zz đường X, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

2. Ông Lý A X – sinh năm: 1968 (Vắng mặt).

Trú tại: Số xx đường X, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lý Anh K là đối tượng nghiện chất ma túy. Do cần tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng nên vào khoảng 17h00’ ngày 03/12/2018, K một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Air Blade màu cam-đen (không rõ biển số) đi dạo trên các tuyến đường thuộc địa bàn thành phố B tìm xem người dân sơ hở trong việc quản lý tài sản để trộm cắp, bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi đến trước dãy phòng trọ tại: Số nhà z đường B, phường T, thành phố B, do thấy cửa cổng dãy phòng trọ mở nên K dừng xe để ngoài đường rồi đi bộ vào. Khi đi đến cuối dãy trọ thì thấy cửa phòng số 5 của chị Nguyễn Thị Nghi U (sinh năm 1997, Nơi ĐKHKTT: Số xx đường L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk) không đóng. K nhìn vào thấy cháu bé con chị Nghi U đang nằm ngủ trên chiếc giường bằng gỗ bên cạnh có để 01 chiếc điện thoại di động hiệu Apple, loại Iphone 6S màu hồng. Lúc này, chị Nghi U đang trong phòng tắm. K liền lén lút đi vào trong phòng trộm cắp chiếc điện thoại di động hiệu Apple của chị Uyên bỏ vào túi áo khoác rồi nhanh chóng ra ngoài lên xe mô tô tẩu thoát. Sau đó, K đem chiếc điện thoại trên đến tiệm điện thoại Gia Bảo (Địa chỉ: Số zz đường X, thành phố B, tỉnh Đắk lắk) bán cho anh Tạ Văn T là chủ tiệm lấy số tiền 700.000 đồng tiêu xài cá nhân hết. Sau khi phát hiện bị mất tài sản, chị Nghị U đã trình báo vụ việc đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, yêu cầu xử lý.

Tại Kết luận định giá số 291/KLĐG ngày 29/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 6S màu hồng trị giá: 3.600.000 đồng Tại Bản cáo trạng số 335/CT-VKS-TPBMT ngày 12/11/2019, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố bị cáo Lý Anh K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ Luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại và Bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố.

Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Đồng thời đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lý Anh K mức án từ 06 đến 09 tháng tù. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự.

Đề nghị chấp nhận việc gia đình bị cáo Lý Anh K đã bồi thường cho người bị hại số tiền 3.600.000 đồng.

Bị cáo không bào chữa gì đối với hành vi đã thực hiện. Bị cáo và người bị hại không tham gia tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến và khiếu nại về các quyết định và hành vi tố tụng đó. Do vậy, quyết định và hành vi tố tụng của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo, xét thấy: Căn cứ vào lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của người bị hại và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 17h00’ ngày 03/12/2018, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chị Nguyễn Thị Nghi U, bị cáo Lý Anh K đã lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động hiệu Apple, loại Iphone 6S có trị giá: 3.600.000 đồng là phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

* Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a)…

[3] Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại mà còn gây nên những ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được rằng tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật quan tâm bảo vệ, mọi hành vi xâm hại trái pháp luật đều bị trừng trị một cách thích đáng. Song, xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật và muốn có tiền tiêu xài, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo là người có nhân thân xấu, do vậy đối với bị cáo cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly với đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới phát huy được tác dụng giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội. Tuy nhiên, sau khi phạm tội tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đồng thời đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước.

Trong vụ án này còn có anh Tạ Văn T là người mua chiếc điện thoại Iphone 6S cho bị cáo. Tuy nhiên, anh Thành không biết đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với chiếc xe mô tô hiệu Air Blade, màu sơn cam – đen (không rõ biển số) là phương tiện bị cáo Lý Anh K sử dụng vào việc phạm tội. Quá trình điều tra xác định: Chiếc xe do ông Lý A X mua của một người không rõ nhân thân lai lịch. Việc bị cáo Lý Anh K sử dụng vào việc phạm tội ông Xồi không biết. Do vậy, cơ quan điều tra không xử lý đối với ông X và tách chiếc xe mô tô ra khỏi nội dung vụ án để xác minh làm rõ sau là phù hợp.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại số tiền 3.600.000 đồng. Người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm. Xét thấy, việc bồi thường là phù hợp với quy định tại Điều 584 và Điều 589 Bộ luật dân sự nên cần chấp nhận.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án..

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

 - Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: bị cáo Lý Anh K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Lý Anh K 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, ngày 05/9/2019.

* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 589 Bộ luật Dân sự. Chấp nhận bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại chị Nguyễn Thị Nghi U số tiền 3.600.000 đồng.

* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Lý Anh K phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

88
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 335/2019/HS-ST ngày 26/11/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:335/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:26/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về