Bản án 335/2018/HNGĐ-ST ngày 02/10/2018 về tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 335/2018/HNGĐ-ST NGÀY 02/10/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH, LY HÔN

Ngày 02 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 222/2018/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2018 về“Tranh chấp HNGĐ, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số427/2018/QĐXXST-DS ngày 31/8/2018 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Bà Trần Thị A; sinh năm 1991.

Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng G; sinh năm 1986. Cùng cư trú: Tổ 22, ấp T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An G.(Bà A có mặt, ông G vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và bản tự khai cùng ngày 02/7/2018 cùng với các tài liệu và chứng cứ kèm theo của bà Trần Thị A trình bày: Hôn nhân giữa bà với ông Nguyễn Hoàng G tự tìm hiểu, không có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L vào ngày 04/3/2014. Vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 3/2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bà và ông G thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm. Bà và ông G ly thân từ tháng 3/2017 đến nay. Trong thời gian ly thân gia đình hai bên không đứng ra hàn gắn. Do tình cảm không còn nên bà yêu cầu ly hôn với ông G.

Về con chung: Bà và ông G có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng Thu H, sinh ngày10/12/2010 và Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 23/02/2013. Hiện nay 02 con chung đang sống với ông G. Khi ly hôn, bà đồng ý để 02 con chung tiếp tục sống với ông G, bà xin không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Trong quá trình thụ lý, hòa giải Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt cho ông Nguyễn Hoàng G theo quy định nhưng ông G vẫn không có mặt theo văn bản triệu tập của Tòa án, mặc dù trong quá trình tiến hành tố tụng Tòa án có phân công cán bộ đến tại nhà của ông G làm việc nhưng vẫn không gặp ông G để ghi lời khai.

Chứng cứ thu thập được: Tại biên bản xác minh ngày 28/8/2018 được bà Nguyễn Thị V cho biết: Bà là mẹ ruột của ông Nguyễn Hoàng G, bà Trần Thị A là vợ của G. Vợchồng G tự tìm hiểu, sống với nhau từ năm 2014, không có đám cưới nhưng có đăng ký kết hôn. Vợ chồng G đã ly thân hơn 01 năm nay. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợchồng G thường xuyên cãi nhau về vấn đề tiền bạc. Trong thời gian ly thân gia đình cóhàn gắn nhưng không thành. Vợ chồng G có 02 con chung Nguyễn Hoàng Thu H và Nguyễn Thị Tường V. Hiện nay 02 con chung đang sống với ông G, bản thân bà cũng phụ giúp nuôi dạy 02 cháu. Theo bà thì ông G yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung và không yêu cầu cấp dưỡng.

Tại biên bản xác minh ngày 21/8/2018 được ông Huỳnh Văn V – Trưởng ấp T cho biết: Ông Nguyễn Hoàng G là chồng của bà Trần Thị A, hiện nay ông G còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương. Hiện nay ông G đi làm thuê tại Bình Dương, vài tháng về thăm nhà một lần. Ông G và bà A ly thân hơn 01 năm, nguyên nhân mâu thuẫn thì địa phương không rõ.

Tại Phiên tòa bà A bảo lưu ý kiến. Riêng ông G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử (HĐXX), xét xử vắng mặt ông G theo thủ tục chung.

Quan điểm Kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong việc ghi lời khai, hòa giải, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Về nội dung vụ án Kiểm sát viên đề nghị HĐXX:

Về hôn nhân: Bà A, ông G có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L vào ngày 04/3/2014. Xét đây là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, việc mâu thuẫn giữa bà A và ông G không thể hàn gắn nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của bà A được ly hôn với ông G.

Về con chung: Có 02 con chung Nguyễn Hoàng Thu H, sinh ngày 10/12/2010 và Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 23/02/2013. Hiện nay 02 con chung đang sống với ông G. Khi ly hôn bà A đồng ý để ông G tiếp tục nuôi dạy con chung, bà xin không cấp dưỡng. Lời trình bày của bà A phù hợp với lời trình bày của bà V (mẹ ông G). Xét thấy, từ khi ly thân đến nay thì con chung đang sống với ông G. Do đó, để đảm bảo cho sự phát triển tâm sinh lý bình thường và điều kiện sống của con chung nên đề nghị HĐXX cho ông G tiếp tục nuôi con chung. Do không làm việc được với ông G nên sẽ không xem xét phần cấp dưỡng nuôi con, nếu sau này ông G có yêu cầu sẽ xem xét giải quyết bằng một vụ kiện khác.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà A xác định không có. Nếu sau này ông G có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng một vụ kiện khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

 [1]Về tố tụng: Bà Trần Thị A khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hoàng G. Đồng thời, ông G cư trú trên địa bàn huyện A. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A.

 [2] Về sự vắng mặt của đương sự: Ông G được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt ông G theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

 [3] Về nội dung:

Quan hệ hôn nhân giữa bà A, ông G tự tìm hiểu, không có tổ chức đám cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Long Bình vào ngày 04/03/2014 theo quy định nên xem là hôn nhân hợp pháp, thuộc thẩm quyền giải quyếtcủa Tòa án, thụ lý giải quyết theo Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu của bà A xin ly hôn với ông G. HĐXX xét thấy thời gian ly thân giữa bà A, ông G đã lâu nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn. HĐXX xét thấy mâu thuẫncủa bà A và ông G không thể hàn gắn nên HĐXX chấp nhận ly hôn theo yêu cầu của bà A theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

 [4] Về con chung: Bà A, ông G có 02 con Nguyễn Hoàng Thu H, sinh ngày10/12/210 và Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 23/02/2013. Hiện nay 02 con chung theo bà A trình bày đang do ông G nuôi dạy, lời trình bày của bà A phù hợp với lời trình bày của bà Viên (mẹ ông G). Do đó, để đảm bảo cho sự phát triển tâm sinh lý bình thường và điều kiện sống của 02 con chung, HĐXX nghĩ nên để 02 con chung tiếp tục sống chung với ông G. Nếu sau này ông G có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng một vụ kiện khác.

 [5] Về cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Bà G xin không cấp dưỡng nuôi con. Bà Viên cho rằng phía ông G không yêu cầu cấp dưỡng nên sẽ không xem xét về phần cấp dưỡng, nếu sau này ông G có yêu cầu thì sẽ giải quyết bằng một vụ án khác. HĐXX cũng giải thích cho các đương sự biết: Ông G cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà A trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

 [6] Về tài sản chung, nợ chung: Bà A xác định không có nên HĐXX không xem xét giải quyết. Nếu sau này các đương sự có yêu cầu thì sẽ khởi kiện bằng một vụ kiện khác.

 [7] Về án phí: Bà A là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân. Các bên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 147, 227, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm b, khoản 6, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Trần Thị A.

Về hôn nhân: Bà Trần Thị A được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng G.

Về con chung: Ông G được tiếp tục nuôi dạy 02 con chung Nguyễn Hoàng Thu H, sinh ngày 10/12/20 10 và Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 23/02/2013.

Ông G cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà A trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về án phí: Bà Trần Thị A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, chuyển từ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003087 ngày 03/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A. (bà A đã nộp đủ)

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (02/10/2018) bà A có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn này đối với ông G được tính kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.


82
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 335/2018/HNGĐ-ST ngày 02/10/2018 về tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn

Số hiệu:335/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện An Phú - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:02/10/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về