Bản án 334/2018/HNGĐ-ST ngày 09/11/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HOÁ, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 334/2018/HNGĐ-ST NGÀY 09/11/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 09 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 257/2018/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2018 về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2018/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, Sinh năm 1985

Địa chỉ: thôn 2, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

2. Bị đơn: Anh Lê Văn Nh, Sinh năm 1982

Địa chỉ: thôn 2, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Tại phiên tòa có mặt chị L, vắng mặt anh Nh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 21/8/2018, bản tự khai ngày 27/8/2018 và lời khai tại phiên tòa sơ thẩm của chị Nguyễn Thị L thể hiện nội dung sau:

Tôi và anh Nh kết hôn năm 2006 trên cơ sở tự nguyện, có Giấy chứng nhận kết hôn do UBND xã H cấp. Sau khi cưới vợ chồng sống chung với nhau bình thường được hai năm thìbắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên  nhân dẫn đến mâu thuẫn là do anh Nh không chịu tu chí làm ăn, không chăm lo cho gia đình mà thường xuyên dùng bạo lực đối với tôi nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2008 cho đến nay. Tình cảm vợ chồng đến nay đã hết nên đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn anh Nh.

Về con chung: Vợ chồng tôi có 01 con chung là cháu Lê Văn Nh, sinh ngày 30/5/2007, hiện nay cháu đang ở với tôi, nay ly hôn nguyện vọng của tôi là muốn được nuôi con và không yêu cầu anh Nh cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đối với anh Lê Văn Nh: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án Tòa án đã triệu tập anh Nh nhiều lần đến Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa anh và chị L nhưng anh không có mặt. Theo đơn đề nghị thu thập chứng cứ của chị L, Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa đã phối hợp với UBND xã H đến làm việc tại nhà anh Nh ở thôn 2, xã H. Khi đoàn công tác đến nhà anh Nh thì anh Nh bỏ đi và không làm việc với Tòa án. Tòa án đã lập biên bản về việc anh Nh cố tình không nhận văn bản tố tụng của Tòa án và Tòa án giao toàn bộ văn bản tố tụng cho bà Nguyễn Thị L là mẹ của anh Nh.

Theo Biên bản ghi lại lời khai ngày 28/8/2018 đối với bà Nguyễn Thị L là mẹ đẻ của anh Nh thể hiện:

Năm 2006 bà tổ chức đám cưới cho anh Nh và chị L, sau khi cưới thì vợ chồng chung sống hạnh phúc và năm 2007 chị L sinh con đến năm 2008 thì cả hai vợ chồng đem con vào miền N làm ăn. Cuối năm 2008 bà không biết vợ chồng mâu thuẫn như thế nào mà chỉ mình anh Nhường đưa cháu Lê Văn Nh về quê ăn tết và vợ chồng chị L anh Nh đã sống ly thân từ thời gian đó cho đến nay. Chị L làm đơn xin ly hôn, anh Nh đã nhận được giấy triệu nhưng anh Nh không đến Tòa án và hôm nay Tòa án cùng UBND xã đến làm việc nhưng anh Nh bỏ đi là vì anh Nh không muốn ly hôn. Vợ chồng anh Nh, chị L có 01 con chung là cháu Lê Văn Nh, sinh ngày 30/5/2007, trong thời gian vợ chồng sống ly thân thì cháu lúc thì ở với tôi và bố cháu nhưng có lúc lại ở với ông bà ngoại nhưng từ ngày chị L về quê đến nay cháu về ở với chị L. Về tài sản thì vợ chồng chị L không có tài sản chung, nay chị L làm đơn xin ly hôn anh Nh, nguyện vọng của bà là mong muốn cho vợ chồng đoàn tụ nhưng quyết định việc ly hôn hay không là tùy vào các con của bà. Bà L hứa sẽ có trách nhiệm giao lại toàn bộ giấy tờ, tài liệu mà Tòa án đã giao cho anh Nh.

Theo Bản tự khai của cháu Lê Văn Nh ngày 17/9/2018 thể hiện: Nay bố mẹ cháu không còn ở với nhau nữa nên nguyện vọng của cháu là mong Tòa án giải quyết cho cháu được ở với mẹ.

Tòa án đã ra thông báo về phiên hòa giải nhưng anh Nh không có mặt và vụ án không tiến hành hòa giải được nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát:

- Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tung đều thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về trình tự tố tụng và việc tuân theo pháp luật.

- Về nội dung: Về hôn nhân thì mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Nh và chị L đã đến mức trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử cho chị liên được ly hôn anh Nh; về con chung, do cháu Lê Văn Nh đang ở cùng chị L, anh Nh không có nguyện vọng về việc nuôi con nên đề nghị HĐXX giao cháu Lê Văn Nh cho chị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con chị L không yêu cầu nên không đề nghị HĐXX xem xét và buộc các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa nguyên đơn không có sự thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ về yêu cầu khởi kiện và các bên không thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án triệu tập anh Nhường nhiều lần đến Tòa án để giải quyết ly hôn giữa anh với chị L nhưng anh Nh không đến. Tòa án cùng địa phương đến làm việc tại nhà nhưng anh Nh bỏ đi điều đó thể hiện việc anh Nh cố tình chống đối, không hợp tác để giải quyết vụ án. Tòa án đã giao Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho gia đình và Niêm yết công khai tại UBND xã H nhưng anh Nh vẫn cố tình không đến nên cần căn cứ vào điều 227 BLTTDS xét xử vắng mặt anh Nh.

[2]Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Lê Văn Nh kết hôn năm 2006 trên cơ sở tự nguyện, có giấy chứng nhận kết hôn do UBND xã Hoằng Hải cấp là hôn nhân hợp pháp. Theo chị L thì sau khi cưới vợ chồng sống chung với nhau được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do anh Nh không chịu tu chí làm ăn, suốt ngày rượu chè cờ bạc, không chăm lo đến gia đình nên khi vào miền Nam làm ăn anh Nh vẫn không thay đổi, vợ chồng thường xuyên cãi vã rồi anh Nh đưa con về quê sinh sống và vợ chồng chị ly thân từ cuối năm 2008 đến nay, gần 10 năm sống ly thân, không ai quan tâm đến ai nên tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nh. Mặc dù trong hồ sơ vụ án không thể hiện lời khai của anh Nh nhưng bà Nguyễn Thị L là mẹ đẻ của anh cũng thừa nhận lời trình bày của chị L là đúng thực tế. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm giữa chị L và anh Nh thực sự không còn, mâu thuẫn đã ở mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.

Do vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị L được ly hôn anh Nh là phù hợp với tình trạng hôn nhân hiện nay.

 [3]Về con chung và tài sản chung: Chị L và anh Nh có 01 con chung là cháu Lê Văn Nh, sinh ngày 30/5/2007. Hiện nay cháu đang ở với chị L, ly hôn nguyện vọng của chị L là muốn được nuôi con và không yêu cầu anh Nh cấp dưỡng nuôi con chung; Anh Nh tuy biết Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn giữa anh và chị L nhưng anh không có ý kiến gì về hôn nhân cũng như nguyện vọng đối với con; cháu Lê Văn Nh có nguyện vọng muốn được ở với mẹ. Hội đồng xét xử thấy rằng cháu Nh hiện nay đang sống cùng chị L, để tránh xáo trộn cuộc sống của cháu và cũng là phù hợp với nguyện vọng của cháu Nh nên cần giao cháu Nh cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

 [4]Về án phí: Chị L phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 51, 56, 58,81,82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Toà án.

Xử:

 [1].Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Lê Văn Nh.

 [2].Về con chung: Công nhận cháu Lê Văn Nh, sinh ngày 30/5/2007 là con chung giữa chị L và anh Nh. Giao cho chị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Lê Văn Nh, sinh ngày 30/5/2007. Anh Nh có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở nhưng anh Nh cũng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến cuộc sống riêng của chị L.

[3].Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004362 ngày 21 tháng 8 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa (chị L đã thi hành xong).

Chị L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, anh Nh có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.


52
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 334/2018/HNGĐ-ST ngày 09/11/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:334/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hoằng Hóa - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:09/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về