Bản án 33/2020/HNGĐ-ST ngày 22/04/2020 về tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 33/2020/HNGĐ-ST NGÀY 22/04/2020 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH LY HÔN

Ngày 22 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 914/2019/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2019 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2020, giữa các đương sự:

Ngun đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1971; địa chỉ: ấp H, xã A, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Lê Thị C, là Luật sư Văn Phòng Luật sư L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh A; có mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1978; địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày, sau thời gian quen biết và tìm hiểu, bà T và ông T1 chung sống vào tháng 10 năm 1987 nhưng không đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống, bà T, ông T1 có sinh 02 con chung tên Nguyễn Hoàng T2, sinh ngày 10/3/1990 và Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 15/9/1997. Hiện tại, cháu T2 đã thành niên và có khả năng lao động nuôi sống bản thân; cháu L đã chết do bệnh ung thư phổi vào ngày 24/02/2020.

Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã do bất đồng quan điểm sống và không còn sống chung từ năm 2012 cho đến nay.

Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông T1; không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện: Giấy khai sinh của Nguyễn Hoàng T2, sinh ngày 10/3/1990 và giấy khai sinh của Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 15/9/1997 do Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp (bản sao); tờ tự khai ngày 20/11/2019, văn bản ghi ý kiến ngày 10/3/2020 do bà Nguyễn Thị T lập; trích lục khai tử của Nguyễn Hoàng L do Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 02/3/2020.

- Theo tờ tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn T1 trình bày, thống nhất với lời trình bày của bà T về thời gian chung sống, thời gian xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn, về con chung, tài sản chung, nợ chung và thời gian vợ chồng không còn sống chung.

Do tình cảm không còn nên ông T1 đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà T; không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết việc nuôi dưỡng con chung; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Tại phiên tòa:

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày, bà T, ông T1 bắt đầu chung sống vào năm 1989. Trước đây, do nhớ không chính xác nên bà T khai thời gian bắt đầu chung sống vào năm 1987. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T; cho bà T được ly hôn với ông T1; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, tài sản chung, nợ chung.

[1] Về tố tụng:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 Bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn T1. Đồng thời, ông T1 cư trú trên địa bàn huyện C. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn T1 đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến 2 hành xét xử vắng mặt bà T, ông T1 theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn T1 thống nhất, sau thời gian quen biết và tìm hiểu, bà T và ông T1 chung sống vào tháng 10 năm 1987 nhưng không đăng ký kết hôn. Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn xác định, bà T, ông T1 bắt đầu chung sống vào năm 1989. Trước đây, do nhớ không chính xác nên bà T, ông T1 khai thời gian bắt đầu chung sống vào tháng 10 năm 1987.

Xét, bà T và ông T1 chung sống với nhau sau ngày 03/01/1987 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Vì vậy, không công nhận bà T và ông T1 là vợ chồng theo khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà T, ông T1 có sinh 02 con chung tên Nguyễn Hoàng T2, sinh ngày 10/3/1990 và Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 15/9/1997. Do cháu T2 đã thành niên và có khả năng lao động nuôi sống bản thân; cháu L đã chết vào ngày 24/02/2020. Đồng thời, bà T, ông T1 không yêu cầu Tòa án xem xét việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Cho nên, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết về việc nuôi dưỡng con chung.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà T, ông T1 xác định không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[2.4] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông T1 không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

n cứ khoản 1 iều 14, khoản 2 iều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; các iều 144, 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 iều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn T1 là vợ chồng.

2. Về con chung: Do cháu Nguyễn Hoàng T2, sinh ngày 10/3/1990 đã thành niên và có khả năng lao động nuôi sống bản thân; cháu Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 15/9/1997, đã chết vào ngày 24/02/2020 nên không đề cập giải quyết.

3. Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300 000 ba trăm nghìn đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300 000 ba trăm nghìn đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí 3 Tòa án số TU/2017/0007728 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An Giang cấp ngày 20 tháng 12 năm 2019; bà Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí.

Ông Nguyễn Văn T1 không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

4. Bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn T1 có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trưng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại iều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các iều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại iều 30 Luật thi hành án dân sự .


29
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 33/2020/HNGĐ-ST ngày 22/04/2020 về tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn

Số hiệu:33/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chợ Mới - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:22/04/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về