Bản án 33/2019/HSST ngày 25/06/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA Đ - TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 33/2019/HSST NGÀY 25/06/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 25 tháng 6 năm 2019 tại Hội trường Cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc số 1 tỉnh Nghệ An (địa chỉ: xã Nghĩa Đức, huyện Nghĩa Đ, tỉnh Nghệ An) xét xử sơ thẩm công khai lưu động vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2019/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2019/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Ngọc D – Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 20 tháng 7 năm 199..; Nơi ĐKNKTT và chổ ở hiên nay: Xóm Hồng T, xã Nghĩa H, huyện Nghĩa Đ, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Ngọc Th - Sinh năm 195… và con bà Đặng Thị Q- Sinh năm 196…; Vợ: Bùi Thị N – sinh năm 1993; con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn xử phạt 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/04/2019 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 09/04/2019, Trần Ngọc D lên cơn nghiện ma túy nên đã xin đi nhờ xe của người đi đường đi từ xã Nghĩa H, huyện Nghĩa Đ sang khu vực xã Xuân H, huyện Như X, tỉnh Thanh Hóa để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến đường mòn Hồ Chí Minh đoạn qua xã Xuân H, huyện Như X, tỉnh Thanh Hóa thì D xuống xe đi bộ để tìm mua ma túy và D gặp một người phụ nữ giới thiệu tên H, khoảng 55 tuổi, cao 1,60m, mặc áo hoa, quần dài đen và mua của người phụ nữ tên H này 01 (một) gói Hêrôin bọc bởi lớp giấy mặt trong màu trắng, mặt ngoài màu đỏ, xanh, đen với giá 170.000 đồng. Mua xong D giấu gói ma túy vừa mua được vào trong chiếc ví da màu nâu và để vào túi quần phía sau, bên phải D đang mặc, rồi xin xe đi nhờ về khu vực chợ xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đ thì xuống xe đi bộ tìm nơi sử dụng. Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi đang đi bộ trên Quốc lộ 15A, đoạn đường thuộc Làng D, xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đ thì bị lực lượng Công an huyện Nghĩa Đ bắt quả tang và thu giữ trong ví da của Trần Ngọc D 01 (một) gói chất bột màu trắng (nghi là Hêrôin) được bọc bằng lớp giấy màu đỏ, xanh, đen và một chiếc ví da màu nâu.

Ngày 10/04/2019 cơ quan điều tra Công an huyện Nghĩa Đ đã lấy mẫu vật thu giữ của Trần Ngọc D trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nghệ An giám định. Tại bản kết luận giám định số 606/KL-PC09(MT) ngày 12/04/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An, kết luận mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Trần Ngọc D gửi tới giám định là ma túy (Hêrôin), có khối lượng là 0,16 gam.

Bản cáo trạng số 35/CT-VKS-HS ngày 06 tháng 6 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn đã truy tố Trần Ngọc D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Đối với người phụ nữ tên H đã bán cho Trần Ngọc D số ma túy trên, cơ quan điều tra công an huyện Nghĩa Đ đã phối hợp với Công an huyện Như X, tỉnh Thanh Hóa tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được lai lịch, nên không có cơ sở để xử lý trong vụ án này.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viên kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã kết luân. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 - Bộ luật hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo Trần Ngọc D từ 15 đến 18 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung; về vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu đi giám định và 01 chiếc ví da không còn giá trị sử dụng; về án phí buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận đúng như nội dung bản cáo trạng quy kết và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nghĩa Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với vật chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đã xác định vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 09/04/2019, tại đoạn đường Quốc lộ 15A thuộc địa phận Làng D, xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đ, tỉnh Nghệ An, Trần Ngọc D đã có hành vi tang trữ trái phép chất ma túy (Hêrôin) với tổng khối lượng là 0,16 gam (không phẩy mười sáu gam) nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo thực hiện đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Trần Ngọc D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 - Bộ luật hình sự. Đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo.

Hành vi phạm tội của bị cáo không những đã xâm phạm đến chính sách quản lý Nhà nước về các chất ma túy, mà còn ảnh hưởng lớn đến an ninh trật tự tại địa phương, do đó cần xét xử nghiêm để phòng ngừa chung.

[3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy cũng được xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[4] Về hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, kết hợp với việc xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù, có thời hạn đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện, công việc không ổn định, thu nhập thấp đủ chi tiêu cho bản thân nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

[5] Về biện pháp ngăn chặn: Cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

[6] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, cơ quan công an đã thu giữ 01 gói ma túy được gói bằng lớp giấy màu đỏ, xanh, đen. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nghĩa Đ tiến hành lấy mẫu 0,08 gam gửi đi giám định. Số ma túy còn lại là 0,08 gam đã được niêm phong là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và 01 chiếc ví da màu nâu không còn giá trị sử dụng, hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đ. Nay cần tịch thu tiêu hủy, theo quy định tại khoản 2 điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Ngọc D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và điều 38 - Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc D 18 (Mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09/04/2019.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 điều 106 - Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu đi giám định, đựng trong phong bì thư hình chữ nhật có đóng dấu niêm phong của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nghĩa Đ và 01 (một) ví da màu nâu, đã qua sử dụng không còn giá trị thu giữ của bị cáo Trần Ngọc D, chi tiết được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đ.

- Về án phí: Áp dụng điều 136 - Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Ngọc D phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


61
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 33/2019/HSST ngày 25/06/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:33/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nghĩa Đàn - Nghệ An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:25/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về