Bản án 33/2019/HSST ngày 16/05/2019 về tội vô ý làm chết người

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 33/2019/HSST NGÀY 16/05/2019 VỀ TỘI VÔ Ý LÀM CHẾT NGƯỜI

Ngày 16 tháng 5 năm 2019 tại Phòng xử án - Toà án nhân dân huyện Ea H’leo mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 17/2019/TLST-HS, ngày 19 tháng 03 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2019/QĐXXST-HS ngày 10/4/2019 đối với bị cáo:

Họ tên: Đào Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam Sinh năm: 1988, tại tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT: Thôn A, xã N, huyện H, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã N, huyện H, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Nhân viên y tế học đường; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Đào Văn B, sinh năm 1959; Mẹ: Thái Thị C, sinh năm 1961; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 25/01/2019. Có mặt tại phiên toà.

- Người bị hại: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1981 (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Anh Nguyễn Văn E, sinh năm 1978 (Chồng của chị Nguyễn Thị D). Có mặt.

Nơi cư trú: Thôn 3, xã N, huyện H, tỉnh Đắk Lắk.

- Người làm chứngChị Nguyễn Thị L, sinh năm 1978. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Nơi cư trú: Thôn 3, xã N, huyện H, tỉnh Đắk Lắk

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đào Văn T không có chứng chỉ ngành nghề khám chữa bệnh nhưng vào khoảng 16 giờ ngày 23/11/2017, chị Nguyễn Thị D là giáo viên trường tiểu học S thấy người mệt mỏi nên đã nhờ Đào Văn T là nhân viên y tế học đường làm cùng trường truyền dịch cho mình ở nhà chị Nguyễn Thị L tại thôn 3, xã N, huyện H thì T đồng ý. Lúc này, T đi mua 01 chai có nhãn hiệu Lactated Ringe’s 500ml và 01 chai Vitamin Camplex 500ml truyền dịch cho D từ lúc 18 giờ 30 đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì xong nên T rút kim truyền dịch rồi đi về nhà. Đến khoảng 6 giờ 30 phút ngày 24/11/2017, chị Nguyễn Thị D có biểu hiện khó thở nên được gia đình đưa đi cấp cứu nhưng khi đến Bệnh viện đa khoa huyện H thì chị D đã tử vong.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vào lúc 10 giờ 50 phút ngày 24/11/2017 tại nhà chị Nguyễn Thị L ở thôn 3, xã N, huyện H thể hiện: Nhà xây cấp 4, mái lợp tôn, nền lát gạch men, nhà xây theo hướng Bắc-Nam, mặt quay về hướng Bắc, từ ngoài vào đầu tiên là phòng khách, kế đến là hai phòng ngủ, cửa phòng ngủ mở về hướng Tây, cuối cùng là phòng bếp, ở bên tường hướng Tây có đường luồng đi lại trong nhà; nơi xảy ra sự việc là phòng ngủ thứ nhất từ ngoài vào trong sau phòng khách, trong phòng ngủ ở góc tường phía Tây có kê một bàn máy tính, ở góc tường phía Đông-Bắc có kê một cái giường và góc tường phía Đông-Nam cạnh giường ngủ có một tủ nhôm kính để đồ; giường ngủ có kích thước 2m x 1,6m, trên giường có ga nệm màu vàng, có một chăn nhung màu đỏ trắng, một chăn chiên màu xanh vàng và một gối ngủ màu cam được sắp gọn gàng, phía trên có treo mùng màu trắng cố định vào khung làm bằng kim loại, góc phía Tây-Nam của khung mùng có treo một thanh kim loại màu trắng để treo bình truyền nước, bình nước làm bằng nhựa màu trắng bên trong không có gì.

Biên bản khám nghiệm tử thi Nguyễn Thị D vào hồi 11 giờ 30 ngày 24/11/2017 tại thôn 3, xã N, huyện H, thể hiện: Vùng đầu không phát hiện dấu vết gì; vùng mặt, đồng tử 2 mắt giãn đều 5mm, miệng có dịch bọt màu trắng; ngực, lưng, bụng, da có dấu hiệu nổi da gà; mặt trước trong 1/3 giữa cẳng tay trái có vết màu tím kích thước 0,1 x 0,1cm, mặt trước ngoài 1/3 giữa cẳng tay phải có vết màu tím kích thước 0,1 x 0,1cm, đầu các ngón tay, ngón chân tím tái, cơ quan sinh dục ngoài không phát hiện tổn thương.

Mổ tử thi Nguyễn Thị D, thể hiện: Rạch da cổ, ngực, bụng theo đường giữa thấy: Không tụ máu dưới da cơ, vùng cổ, ngực, bụng khí phế quản chứa đầy dịch bọt màu hồng, khoang ngực hai bên khô sạch, hai phổi căng bóng, xuất huyết thành chấm bề mặt hai phổi, cắt phổi nhiều dịch bọt màu hồng sẫm chảy ra; tim to, cơ tim nhão, buồng tim chứa đầy máu loãng, van hai lá giãn rộng lọt hai ngón tay, van không sơ; khoang bụng không chứa dịch; gan màu tím, cắt ứa máu; dạ dày không chứa thức ăn, trong lòng dạ dày chứa 300ml dịch, không có mùi gì đặc biệt, niêm mạc dạ dày bình thường; hai thận ứ máu, không dị dạng, không chứa sỏi, tử cung nhỏ mềm bên trong không chứa gì; tiến hành thu mẫu, đóng vết mổ kết thúc khám tử thi.

Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 126/GĐPY ngày 09/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Nguyên nhân tử vong của chị Nguyễn Thị D là: Bệnh lý suy tim không hồi phục do: 1. Nguyên nhân chính, trực tiếp: Bệnh lý viêm cơ tim cấp; 2. Nguyên nhân phụ, gián tiếp: Tăng khối lượng tuần hoàn, liên quan đến lượng dịch đưa vào cơ thể nạn nhân; 3. Loại trừ sốc dịch truyền hay ngộ độc thuốc.

Tại biên bản Hội đồng chuyên môn xem xét trả lời trưng cầu kết luận chuyên môn của Sở Y tế số: 20/BB-HĐCM ngày 05/9/2018 của Sở Y tế tỉnh Đắk Lắk, kết luận:

1. Trước khi thực hiện truyền dịch phải thăm khám bệnh nhân;

2. Việc thực hiện truyền dịch phải thực hiện theo đúng quy định;

3. Người có bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp (ngành đào tạo y sỹ đa khoa) vẫn được phép truyền dịch vào cơ thể người khác nếu có chỉ định của Y, Bác sỹ theo đúng quy định.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo tiến hành thu giữ: 01 chai có nhãn hiệu Lactated Ringe’s 500ml và 01 chai Vitamin Camplex 500ml đã sử dụng hết dịch, 01 dây truyền; 01 túi bông gòn đã được sử dụng 01 phần; 01 chai cồn 900 đã sử dụng 01 phần; 04 miếng bông gòn đã qua sử dụng; 02 băng cá nhân đã qua sử dụng. Đào Văn T khai nhận đây là toàn bộ vật dụng mà T đã sử dụng để chuyền nước cho Nguyễn Thị D vào ngày 23/11/2017. Ngoài ra còn thu giữ 01 lọ thuốc VITAMIN C trong hộp còn 6 viên, Nguyễn Thị L trình bày đây là lọ thuốc mà Nguyễn Thị D sử dụng vào khoảng 01 giờ sáng ngày 24/11/2017.

Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo Đào Văn T đã đến thăm hỏi, hỗ trợ cho gia đình bị hại số tiền 30.000.000 đồng, gia đình người bị hại (anh Nguyễn Văn E) làm đơn xin bãi nại cho bị cáo và không yêu cầu gì thêm về dân sự.

Tại bản Cáo trạng số 27/KSĐT-HS, ngày 19 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’leo truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Ea H’leo để xét xử đối với bị cáo Đào Văn T về tội “Vô ý làm chết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 98 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa 14; Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra.

Qua phần tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên đưa ra các chứng cứ buộc tội và đánh giá tính chất mức, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra. Đồng thời vẫn giữ nguyên toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo nói trên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 98 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa 14; Khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 128, Điều 36, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Đào Văn T từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 lọ thuốc VITAMIN C trong hộp còn 6 viên; 01 chai có nhãn hiệu Lactated Ringe’s 500ml và 01 chai Vitamin Camplex 500ml đã sử dụng hết dịch, 01 dây truyền nhựa màu trắng; 01 túi bông gòn đã được sử dụng một phần; 01 chai cồn 900 đã sử dụng một phần; 04 miếng bông gòn đã qua sử dụng; 02 băng cá nhân đã qua sử dụng (có đặc điểm lưu tại hồ sơ vụ án).

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Các Điều 584, 585 và 591 Bộ luật dân sự. Chấp nhận việc bị cáo Đào Văn T đã bồi thường hổ trợ cho gia đình người bị hại là anh Nguyễn Văn E (chồng của người bị hại) với số tiền là 30.000.000đồng. Anh E là Người đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.

Ti phiên toà, người đại diện hợp pháp của người bị hại là anh Nguyễn Văn E không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm về dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ea H’leo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’leo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Vào lúc 18 giờ 30 phút, ngày 23 tháng 11 năm 2017, Đào Văn T là nhân viên y tế học đường trường tiểu học S, không có giấy chứng chỉ hành nghề khám chữa bệnh nhưng đã truyền dịch cho chị Nguyễn Thị D ở nhà Nguyễn Thị L tại thôn 3, xã N, huyện H, tỉnh Đắk Lắk. Đến khoảng 6 giờ 30 phút ngày 24/11/2017, chị Nguyễn Thị D có biểu hiện khó thở nên được gia đình đưa đi cấp cứu nhưng khi đến Bệnh viện đa khoa huyện H thì chị D đã tử vong.

Tại Điều 98 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định:

“1. Người nào vô ý làm chết người thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.” Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vô ý làm chết người” được qui định tại khoản 1 Điều 98 Bộ luật Hình sự năm 1999 như đã viện dẩn nêu trên.

Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, thì có khung hình phạt nhẹ hơn, mức thấp nhất của khung hình phạt là cải tạo không giam giữ. Do đó, theo tinh thần áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội được quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14, ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội. Hội đồng xét xử thấy cần xem xét, áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Tại Điều 128 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:

“1. Người nào vô ý làm chết người, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.” Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là do lỗi vô ý. Mặc dù không có giấy chứng chỉ hành nghề khám chữa bệnh nhưng khi được chị D nhờ thì bị cáo đã truyền dịch cho chị D, gián tiếp dẩn đến cái chết của chị D. Do vậy, cần buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng đối với bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội do bị cáo gây ra. Có như vậy mới phát huy được tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường, hổ trợ cho gia đình người bị hại với số tiền 30.000.000đồng. Người đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm và đồng thời có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước.

Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo phạm tội do lỗi vô ý và không có ý thức chủ động mà xuất phát từ việc người bị hại nhờ bị cáo thực hiện hành vi. Nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội mà chỉ cần để bị cáo tự giáo dục, rèn luyện mình dưới sự giám sát của gia đình và chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng trừng trị, răn đe đối với bị cáo.

Xét Lời luận tội cũng như đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật, nên cần chấp nhận.

[3] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, cần tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 lọ thuốc VITAMIN C trong hộp còn 6 viên; 01 chai có nhãn hiệu Lactated Ringe’s 500ml và 01 chai Vitamin Camplex 500ml đã sử dụng hết dịch, 01 dây truyền nhựa màu trắng; 01 túi bông gòn đã được sử dụng một phần; 01 chai cồn 900 đã sử dụng một phần; 04 miếng bông gòn đã qua sử dụng; 02 băng cá nhân đã qua sử dụng (có đặc điểm lưu tại hồ sơ vụ án).

[4] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Các Điều 584, 585 và 591 Bộ luật dân sự. Chấp nhận việc bị cáo Đào Văn T đã bồi thường hổ trợ cho gia đình người bị hại là anh Nguyễn Văn E (chồng của người bị hại) với số tiền là 30.000.000đồng. Anh E là Người đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn T phạm tội “Vô ý làm chết người”. Áp dụng khoản 1 Điều 98 Bộ luật hình sự năm 1999;

Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14, ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội khóa 14;

Áp dụng Khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 128, Điều 36, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Đào Văn T 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Đắk Lắk được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã N trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Bị cáo Đào Văn T có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có thu nhập nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 lọ thuốc VITAMIN C trong hộp còn 6 viên; 01 chai có nhãn hiệu Lactated Ringe’s 500ml và 01 chai Vitamin Camplex 500ml đã sử dụng hết dịch, 01 dây truyền nhựa màu trắng; 01 túi bông gòn đã được sử dụng một phần; 01 chai cồn 900 đã sử dụng một phần; 04 miếng bông gòn đã qua sử dụng; 02 băng cá nhân đã qua sử dụng (có đặc điểm lưu tại hồ sơ vụ án).

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Các Điều 584, 585 và 591 Bộ luật dân sự. Chấp nhận việc bị cáo Đào Văn T đã bồi thường hổ trợ cho gia đình người bị hại là anh Nguyễn Văn E (chồng của người bị hại) với số tiền là 30.000.000đồng. Anh E là Người đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên không đề cập giải quyết.

Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc Bị cáo Đào Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


200
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về