Bản án 33/2019/HNGĐ-ST ngày 23/10/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH KIÊN GIANG

 BẢN ÁN 33/2019/HNGĐ-ST NGÀY 23/10/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Trong ngày 23 tháng 10 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 198/2019/TLST- HNGĐ, ngày 31 tháng 7 năm 2019 về việc “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 04 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Ngô Thị H, sinh năm 1970 (có mặt);

Bị đơn : Ông Mai Văn Đ, sinh năm 1966 (vắng mặt). Cùng địa chỉ: ấp 3, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 17/6/2019 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Ngô Thị H trình bày:

Vào năm 1989, bà kết hôn cùng với ông Mai Văn Đ. Hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương nhưng vợ chồng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Sau khi cưới, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được 20 năm, khoảng 10 năm gần đây bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, có nhiều bất đồng trong quan điểm sống, chồng bà không lo làm ăn mà thường xuyên cờ bạc dẫn đến cự cãi nên cuộc sống chung không hạnh phúc. Nay, xét thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nên bà làm đơn khởi kiện xin ly hôn.

Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên: Mai Triển Đ – sinh năm 1989 và Mai Triển Tr – sinh năm 1991, hiện 02 con đều đã trưởng thành và có gia đình riêng.

Tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung và cũng không có thiếu nợ ai.

Tại phiên tòa, bà Ngô Thị H xin được ly hôn với ông Mai Văn Đ; về con chung, đều đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Mai Văn Đ đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng ông Đ không có mặt cũng không cung cấp bản tự khai cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của ông.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình chung sống, do phát sinh mâu thuẫn không giải quyết được với nhau nên bà Ngô Thị H khởi kiện xin ly hôn với ông Mai Văn Đ được Tòa án thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền được quy định tại Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (Bộ luật BLTTDS 2015).

Ông Mai Văn Đ với tư cách là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ.

[2] Về hôn nhân: Bà Ngô Thị H và ông Mai Văn Đ xác lập quan hệ hôn nhân với nhau vào năm 1989, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới nhưng không có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Quá trình chung sống cho đến nay ông bà cũng không thực hiện việc đăng ký kết hôn là đã vi phạm quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Do quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn cụ thể là ông Đ thường xuyên cờ bạc, không lo làm ăn dẫn đến cự cãi nên cuộc sống chung của vợ chồng không hạnh phúc, vì vậy, bà H yêu cầu được ly hôn với ông Đ. Đối với ông Mai Văn Đ, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng trong đó có 02 lần tống đạt Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tiến hành mở phiên họp vào ngày 17/9/2019 và ngày 02/10/2019 để tạo điều kiện cho vợ chồng ông bà hòa giải, đoàn tụ với nhau nhưng ông Đ không có mặt nên Tòa án không tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được. Ông Đ cũng không gửi bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến và yêu cầu của ông đối với yêu cầu khởi kiện của bà H cho Tòa án. Xét, hôn nhân của ông bà là hôn nhân không hợp pháp nên căn cứ Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân của ông bà là quan hệ vợ chồng.

[3] Về con chung: Quá trình chung sống, bà H xác định, ông bà có 02 con chung tên Mai Triển Đ – sinh năm 1989 và Mai Triển T – sinh năm 1991, hiện nay 02 con đều đã trưởng thành và có gia đình riêng nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[4] Tài sản chung, nợ chung: Bà H xác định vợ chồng không có tài sản chung cũng không thiếu nợ ai và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[5] Về án phí: Án phí ly hôn bằng 300.000đ bà Ngô Thị H phải nộp do có yêu cầu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 53 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà Ngô Thị H và ông Mai Văn Đ là quan hệ vợ chồng.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Ngô Thị H phải chịu án phí là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004249, ngày 31/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, bà Ngô Thị H đã nộp xong án phí hôn nhân sơ thẩm.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/10/2019). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


11
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 33/2019/HNGĐ-ST ngày 23/10/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:33/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Gò Quao - Kiên Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:23/10/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về