Bản án 33/2017/HNGĐ-PT ngày 12/09/2017 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

 TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG  

BẢN ÁN 33/2017/HNGĐ-PT NGÀY 12/09/2017 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 12 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 26/2017/TLPT-HNGĐ ngày 25/07/2017 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con. Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 35/2017/HNGĐ-ST ngày 19/06/2017 của Tòa án nhân dân quận T, thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 76/2017/QĐ-PT ngày 24/8/2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Dương Minh H, sinh năm 1982

Địa chỉ cư trú: K52/14 P, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Vũ Hoàn N, sinh năm 1987

Địa chỉ cư trú: H29/20 K40 P, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

Người kháng cáo: Bà Nguyễn Vũ Hoàn N, là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Ông Dương Minh H và bà Nguyễn Vũ Hoàn N kết hôn năm 2010, đăng ký tại Uỷ ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà cha mẹ bà N tại phường T, quận T, có thời gian thuê nhà ở. Vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình, quan điểm sống không hợp nhau, dẫn đến bất đồng trong cuộc sống, trong công việc gia đình. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không cải thiện được. Từ tháng 8/2016 đến nay đương sự sống ly thân, bà N cùng 2 con về nhà mẹ đẻ sinh sống. Tại đơn khởi kiện ngày 10/02/2017 gửi Tòa án cấp sơ thẩm, ông H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Vũ Hoàn N.

Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm bà Nguyễn Vũ Hoàn N thuận tình ly hôn với ông Dương Minh H.

- Về con chung: Ông H và bà N có 02 con chung là Dương Thoại A, sinh ngày 02/4/2011 và Dương Phát Đ, sinh ngày 25/12/2012. Ly hôn, ông H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Dương Phát Đ, giao con chung Dương Thoại A cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào cấp dưỡng nuôi con.

Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng (mỗi con 1.000.000 đồng/tháng)

- Về tài sản chung: Ông H, bà N tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: đương sự xác định không có.

Với nội dung trên, tại bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 35/2017/HNGĐ-ST ngày 19/6/2017 của Tòa án nhân dân quận T đã quyết định:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 55, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn của ông Dương Minh H và bà Nguyễn Vũ Hoàn N.

2. Về quan hệ con chung: Giao con chung Dương Phát Đ, sinh ngày 25/12/2012 cho ông Dương Minh H trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung Dương Thoại A, sinh ngày 02/4/2011 cho bà Nguyễn Vũ Hoàn N trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông Dương Minh H cấp dưỡng nuôi con chung Dương Thoại A mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

3. Về tài sản chung: Đương sự tự thỏa thuận, nợ chung không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng ông Dương Minh H chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng ông H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận T, thành phố Đà Nẵng.

Án phí cấp dưỡng nuôi con chung 300.000 đồng ông H phải chịu.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án dân sự của đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 28/6/2017 Tòa án nhân dân quận T nhận đơn kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Vũ Hoàn N kháng cáo bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 35/2017/HNGĐ-ST ngày 19/6/2017 với nội dung: bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Dương Thoại A và Dương Phát Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng nhận định:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm bà Nguyễn Vũ Hoàn N giữ nguyên kháng cáo, yêu cầu được trực tiếp nuôi 2 con Dương Thoại A và Dương Phát Đ, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Ông Dương Minh H đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm, yêu cầu được nuôi cháu Dương Phát Đ và cấp dưỡng nuôi cháu Dương Thoại A mỗi tháng 1.000.000 đồng. Trường hợp Tòa án xử giao 2 con cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng thì ông không cấp dưỡng nuôi con.

Phát biểu tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát khẳng định Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ quy định pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Về nội dung kháng cáo của bà N, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[2] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Vũ Hoàn N thì thấy: Từ tháng 8/2016 khi bà N và ông H ly thân, bà N dẫn 2 con về chung sống, học tập, sinh hoạt tại nhà cha mẹ bà tại H29/20 K40 P, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Hai cháu được bà chăm sóc nuôi dưỡng, có sự giúp đỡ của cha mẹ, anh chị em ruột của bà.

Công việc hiện nay của bà N là may áo dài, trang điểm, chủ động được thời gian để đưa đón các con đi học, có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng các con. Trong khi đó ông H hiện thuê nhà ở một mình, công việc của ông là làm chả, phải đi làm từ 4 giờ sáng, chiều tiếp tục đi giao chả cho khách hàng.

Tại phiên tòa ông trình bày là đang chuyển về chung sống tại nhà dì ruột của ông tại phường H, quận H, nên thời gian đến nếu được Tòa án xử giao ông nuôi dưỡng cháu Dương Phát Đ ông sẽ nhờ dì ông hỗ trợ chăm sóc, nuôi dưỡng con.

Hội đồng xét xử xét thấy quyền yêu cầu được trực tiếp nuôi con của ông H, bà N là chính đáng, cũng đồng thời là trách nhiệm, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên, song việc xét xử giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi con khi ly hôn phải căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con. Do cháu Đ còn nhỏ, đang ở ổn định với bà N từ trước đến nay, trong khi điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng con của ông H hiện nay chưa đảm bảo, vì vậy Hội đồng xét xử không thể đáp ứng yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Đ của ông H như án sơ thẩm đã tuyên.

Do vậy cần chấp nhận kháng cáo của bà N, sửa án sơ thẩm, giao 2 con chung Dương Thoại A và Dương Phát Đ cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ quy định pháp luật.

[3] Tại phiên tòa bà N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Bà Nguyễn Vũ Hoàn N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Do sửa án sơ thẩm, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con nên không phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Vũ Hoàn N.

Sửa Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 35/2017/HNGĐ-ST ngày 19/6/2017 của Tòa án nhân dân quận T, thành phố Đà Nẵng.

Căn cứ vào Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về con chung: Giao 02 con chung Dương Thoại A, sinh ngày 02/4/2011 và Dương Phát Đ, sinh ngày 25/12/2012 cho bà Nguyễn Vũ Hoàn N trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Dương Minh H không phải cấp dưỡng nuôi con. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Khi cần thiết vì quyền lợi của con chung các bên có quyền đề nghị Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Vũ Hoàn N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả bà N 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007357 ngày 03/7/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận T, thành phố Đà Nẵng.

Ông Dương Minh H không phải chịu án phí sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án và được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.


98
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 33/2017/HNGĐ-PT ngày 12/09/2017 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:33/2017/HNGĐ-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đà Nẵng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 12/09/2017
Là nguồn của án lệ
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về