Bản án 329/2018/HSST ngày 27/11/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 329/2018/HSST NGÀY 27/11/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 27 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 338/2018/HSST ngày 15 tháng 11 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 244/2018/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

- Họ và tên: TRẦN ANH T (Tên gọi khác: C), sinh ngày: 05/6/1985; Tại tỉnh: Đắk Lắk;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố 5, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở hiện nay: 246 T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Phụ xe; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần H, sinh năm 1959 và con bà Trần Thị V (đã mất), hiện trú tại: thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Tiền sự: Không.

Tiền án: 01. Ngày 29/6/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử phạt 01 năm 06 tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo bản án số 153/2016/HSST.

Nhân thân:

Ngày 26/11/2003, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tại bản án số 195/2003/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù và được xóa án tích.

Ngày 30/11/2005, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 09 tháng tù về “tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt 02 năm tù tại bản án số 267/2005/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù và được xóa án tích.

Ngày 10/9/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 302/2009/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù và được xóa án tích.

Ngày 20/5/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tại bản án số 113/2010/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù và được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2018, hiện đang tạm giam tại

Nhà tạm giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuột – Có mặt.

Người làm chứng:

1. Chị Bùi Thị Hồng V, sinh năm 1979. Địa chỉ: 139/5/7 Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

2. Anh Vũ Mạnh H, sinh năm 1985. Địa chỉ: 108 Đ, phường T, thành phố

B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Anh T là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy đá từ tháng 9/2018 cho đến nay. Vào khoảng 09h00’ ngày 11/10/2018, T đi bộ từ nhà ở 246 T, phường T, thành phố B đến khu vực cầu đường Y, phường E, thành phố B gặp một nam thanh niên tên B (không rõ nhân thân lai lịch). Tại đây, T đi lại gần nói với B “bán cho bịch đồ hai trăm”, B lấy trong túi quần ra một gói nylon bên trong có chứa ma túy đá bán cho T và lấy 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng). Sau khi mua được ma túy đá, T cất giấu vào túi quần đùi phía trước bên phải đang mặc rồi gọi taxi đi về. Khi T về đến trước nhà may Dương ở 124 T, phường E, thành phố B, vừa xuống xe thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột phát hiện, bắt quả tang cùng ma túy. T khai nhận là ma túy đá, mua về để sử dụng cho bản thân và được niêm phong theo quy định của pháp luật.

Tại bản kết luận giám định số: 905/GĐMT-PC09 ngày 16/10/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn dạng tinh thể đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,4658 gam, loại Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,4237 gam, được niêm phong.

Tại bản cáo trạng số 346/CT-VKS ngày 15 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Trần Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại Cơ quan điều tra, cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng số 346/CT-VKS ngày 15 tháng 11 năm 2018, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Trần Anh T từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.

* Các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu, tiêu hủy 0,4237 gam ma túy loại Methamphetamine mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong tại gói số 905/GĐMT-PC09 ngày 16/10/2018 là vật chứng của vụ án.

Bị cáo Trần Anh T không có ý kiến tranh luận gì thêm chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 11/10/2018, trước cổng nhà may Dương tại 124 T, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Buôn Ma Thuột phát hiện, bắt quả tang bị cáo Trần Anh T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ trên người bị cáo 0,4658 gam Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân.

Lời khai của bị cáo tại phiên toà là phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà.

 [2]. Lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, chứng minh đầy đủ các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, như vậy quyết định truy tố bị cáo Trần Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Trần Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến việc quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác, làm tổn hại giống nòi và còn là nguyên nhân dẫn đến làm lan truyền các căn bệnh xã hội, trong đó có đại dịch HIV/AIDS, ngoài ra hành vi của bị cáo còn gây mất ổn định trị an xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức được rằng, ma túy là loại độc dược gây nghiện, nên Nhà nước độc quyền quản lý và nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt và sử dụng trái phép. Song do lối sống buông thả, không lành mạnh, nghiện ngập, nên bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để nhằm mục đích sử dụng. Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân xấu, từng bị xử phạt về nhiều tội danh khác nhau, bị cáo đã không lấy đó làm bài học kinh nghiệm để tu dưỡng rèn luyện bản thân thành công dân có ích cho xã hội, mà tiếp tục dấn thân vào con đường phạm tội để nhẳm thỏa mãn nhu cầu và lợi ích của bản thân, qua đó cho thấy sự xem thường pháp luật của bị cáo. Khi phạm tội bị cáo là người đang có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, do đó hành vi của bị cáo thuộc trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, buộc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, có như vậy mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Anh T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp.

Đối với nguồn ma túy, T khai nhận mua của một thanh niên tên B, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột tiến hành xác minh nhân thân, lai lịch đối tượng nhưng chưa có kết quả nên tách hành vi của đối tượng trên ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh làm rõ.

 [3]. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo trong khi lượng hình, để giảm nhẹ một phần hình phạt, đồng thời thể hiện được chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

[4]. Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu, tiêu hủy 0,4237 gam ma túy loại Methamphetamine mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong tại gói số 905/GĐMT-PC09 ngày 16/10/2018 là vật chứng của vụ án.

 [5]. Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình thực hiện các quyết định điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Anh T không xuất trình thêm chứng cứ tài liệu gì, bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp. luật.

[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: bị cáo Trần Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Anh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 11/10/2018.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu, tiêu hủy 0,4237 gam ma túy loại Methamphetamine mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong tại gói số 905/GĐMT-PC09 ngày 16/10/2018 là vật chứng của vụ án.

 (Tang vật có đặc điểm như trong biên bản giao nhân vật chứng giữa Cơ quan Công an thành phố Buôn Ma Thuột và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột ngày 15/11/2018).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Anh T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


38
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về