Bản án 32/2019/HS-ST ngày 22/05/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 32/2019/HS-ST NGÀY 22/05/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 22/05/2019, tại Tòa án huyện G xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2019/TLST-HS ngày 26/4/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2019/QĐXXST-HS ngày 10/5/2019 đối với 04 bị cáo:

1. Đào Duy Q, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện G, tỉnh Bắc Ninh; học phổ thông: 12/12; nghề nghiệp: Công nhân; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đ và bà Bùi Th, cùng sinh năm 1958; gia đình có 04 chị em, bị cáo thứ 4; không tiền sự; có 01 tiền án: tại bản án số 121 ngày 04/9/2018 của TAND quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; bị tạm giữ từ ngày 05/3/2019 đến ngày 08/3/2019, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.

2. Đào Duy Ch, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện G, tỉnh Bắc Ninh; học phổ thông: 10/12; nghề nghiệp: Làm ruộng; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Duy V, sinh năm 1953 và bà Trần Thị H, sinh năm 1961; gia đình có 04 anh em, bị cáo thứ 4; vợ là Bùi Thị Ho, sinh năm 1993; không tiền án, tiền sự; năm 2011 bị cáo tham gia nghĩa vụ quân sự đến năm 2013 xuất ngũ; bị tạm giữ từ ngày 05/3/2019 đến ngày 08/3/2019, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.

3. Nguyễn Đăng Th, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện G, tỉnh Bắc Ninh; học phổ thông: 12/12; nghề nghiệp: Làm ruộng; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đăng Thụ và bà Đào Thị Hiên, cùng sinh năm 1963; gia đình có 02 anh em, bị cáo thứ 1; vợ Nguyễn Thị Ly, sinh năm 1986; có 02 con, sinh năm 2010 và năm 2014; không tiền án, tiền sự; bị tạm giữ từ ngày 05/3/2019 đến ngày 08/3/2019, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.

4. Bùi Thế V, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện G, tỉnh Bắc Ninh; học phổ thông: 12/12; nghề nghiệp: Làm ruộng; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Thế Vi, sinh năm 1971 và bà Trần Thị Ng, sinh năm 1973; gia đình có 02 anh em, bị cáo thứ 1; vợ Phạm Thu Q, sinh năm 1996; không tiền án, tiền sự; bị tạm giữ từ ngày 05/3/2019 đến ngày 08/3/2019, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Đào Duy T, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện G, tỉnh Bắc Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hi 12 giờ 20 phút, ngày 05/3/2019 tại ki ốt của anh Đào Duy T, địa chỉ: Số 20 chợ Ngụ, thôn Cầu Đào, xã Nhân Thắng, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Công an huyện Gia Bình bắt quả tang các bị cáo có tên trên có hành vi đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền, hình thức chơi liêng. Vật chứng thu giữ: Trên chiếu bạc số tiền 1.930.000đ, 52 quân bài, 01 bàn nhựa và 05 ghế nhựa. Các bị cáo giao nộp số tiền dùng để đánh bạc như sau: Bùi Thế V nộp 500.000đ, Nguyễn Đăng Th nộp 1.000.000đ, Đào Duy Q nộp 700.000đ, Đào Duy Ch nộp 1.800.000đ. Tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 5.930.000đ.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai: Vào thời gian nêu trên các bị cáo đi đến quán anh Đào Duy T cắt tóc và 04 bị cáo gặp nhau tại đó. Sau khi cắt tóc, thì cả 04 bị cáo cùng rủ nhau lên tầng 02 của quán đánh bạc (đánh liêng); sau khi thống nhất cùng nhau đánh bạc, thì bị cáo V lấy bộ bài ở vỉa hè gần quán nhà anh T lên đánh và đánh đến 12 giờ 20 thì bị bắt giữ, số tiền thu giữ là 5.930.000đ, toàn bộ số tiền này các bị cáo dùng để đánh bạc.

Cáo trạng số: 35/CTr-VKS-GB, ngày 26/4/2019 của Viện kiểm sát huyện Gia Bình truy tố 04 bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa, buộc tội các bị cáo về tội đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

- Áp dụng: Khoản 1, 3 Điều 321; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 5 Điều 65, Điều 56, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử phạt bị cáo Đào Duy Q từ 09 đến 12 tháng tù, tổng hợp với hình phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo của Bản án số 121 ngày 04/9/2018, của TAND quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là từ 15 đến 18 tháng; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ đi ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2019 đến ngày 08/3/2019.

- Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; xử phạt: Các bị cáo Nguyễn Đăng Th, Bùi Thế V và Đào Duy Ch từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.

Phạt 04 bị cáo mỗi bị cáo từ 10 đến 15 triệu đồng sung quỹ Nhà nước.

Các bị cáo nhận tội, thừa nhận hành vi như Cáo trạng và bản luận tội của Viện kiểm sát, không tham gia tranh luận mà xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Đào Duy T vắng mặt. Xét thấy việc anh T vắng mặt không ảnh hưởng tới việc giải quyết vụ án nên HĐXX vẫn tiếp tục xét xử theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu được và những tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:

Trong khoảng thời gian từ 11 giờ đến 12 giờ 20 phút ngày 05/3/2019, tại tầng 2 ki ốt của anh Đào Duy T; các bị cáo Đào Duy Q, Đào Duy Ch, Nguyễn Đăng Th và Bùi Thế V đã đánh bạc (Đánh liêng) sát phạt nhau bằng tiền. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 5.930.000đ.

Hành vi của 04 bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội. Hành vi của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, các bị cáo đều biết đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vẫn vi phạm. Các bị cáo có đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự. Vì vậy, cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Xét vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo thấy:

Đây là vụ án đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, cả 04 bị cáo đều trực tiếp thực hiện tội phạm, không có sự bàn bạc, phân công, phân nhiệm và câu kết chặt chẽ với nhau trong quá trình phạm tội nên không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức.

Cả 04 bị cáo cùng rủ nhau đánh bạc và cùng trực tiếp thực hiện tội phạm nên có vai trò ngang nhau. Trước lần phạm tội này bị cáo Đào Duy Q, đã có 01 tiền án nên lần phạm tội này là tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tiền án là bản án số: 121 ngày 04/9/2018 của TAND quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự lần phạm tội này bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách, nên chuyển 06 tháng tù cho hưởng án treo của bán án trên thành 06 tháng tù giam và tổng hợp hình phạt của bản án này. Bị cáo đã 01 lần bị đưa ra xét xử nhưng không lấy đó để tự tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Do vậy, cần có hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo.

04 bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo C, T và V phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt có nơi thường trú cụ thể; bị cáo C có thời gian phục vụ trong quân đội; đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo C, T và V có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo; 03 bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị cho 03 bị cáo được hưởng án treo, xét đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ. Do vậy, xét thấy không cần thiết phải cách ly 03 bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời cũng thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Các bị cáo đánh bạc nhằm mục đích lợi nhuận nên cần phạt mỗi bị cáo một khoản tiền để sung quỹ nhà nước.

[6] Số tiền 5.930.000đ là tiền các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước; 52 quân bài là công cụ, phương tiện phạm tội, xét giá trị sử dụng không còn nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 bàn và 05 ghế nhựa là tài sản thuộc sở hữu của anh Tiệp, anh Tiệp không biết các đối tượng sử dụng bàn ghế nhà mình để đánh bạc, tuy nhiên anh Tiệp cho rằng giá trị tài sản nhỏ và từ chối nhận lại; xét thấy, những tài sản này của anh Tiệp giá trị sử dụng không lớn nên tịch thu tiêu hủy.

Anh Đào Duy T là chủ ki ốt nơi các bị cáo đánh bạc (anh tiệp cắt tóc ở tầng 1, các bị cáo đánh bạc ở tầng 2). Tuy nhiên, khi đánh bạc các bị cáo không nói cho anh Tiệp biết, anh Tiệp cũng không biết việc các bị cáo đánh bạc ở tầng 2 nhà mình, nên Công an huyện Gia Bình không xem xét xử lý phù hợp.

[7] Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[8] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát buộc tội bị cáo về tội đã truy tố, đề xuất mức hình phạt, hình phạt bổ sung và xử lý vật chứng là có căn cứ.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Đào Duy Q, Đào Duy Ch, Nguyễn Đăng Th và Bùi Thế V phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng: Khoản 1, 3 Điều 321; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 5 Điều 65, Điều 56 Bộ luật hình sự; Điều 123 Bộ luật tố tụng hình sự xử phạt bị cáo:

Đào Duy Q 10 tháng tù, tổng hợp với hình phạt 06 tháng tù, cho hưởng án treo của bản án số 121 ngày 04/9/2018 của TAND quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung hai bản án là 16 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2019 đến ngày 08/3/2019. Phạt bị cáo 12 triệu đồng sung quỹ Nhà nước.

Cấm bị cáo đi khỏi nơi cư trú kể từ khi tuyên án cho đến khi chấp hành hình phạt tù.

- Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo:

Nguyễn Đăng Th và Bùi Thế V mỗi bị cáo 07 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt mỗi bị cáo 10 triệu đồng sung quỹ Nhà nước.

- Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo:

Đào Duy Ch 07 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bị cáo 10 triệu đồng sung quỹ Nhà nước.

Giao bị cáo Nguyễn Đăng Th, Bùi Thế V và Đào Duy Ch cho Ủy ban nhân dân xã Nhân Thắng, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

- Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án xử:

+ Tịch thu tiêu hủy 52 quân bài, 01 bàn nhựa, 05 nghế nhựa.

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 5.930.000đ.

+ Bị cáo Đào Duy Q, Đào Duy Ch, Nguyễn Đăng Th và Bùi Thế V mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. 


107
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về