Bản án 32/2019/HNGĐ-ST ngày 21/08/2019 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THUỶ, TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 32/2019/HNGĐ-ST NGÀY 21/08/2019 VỀ LY HÔN

Trong ngày 21/8/2019, tại Hội trường, Toà án nhân dân huyện Lệ Thuỷ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 102/2019/TLS-HNGĐ ngày 07/5/2019 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2019/QĐST-HNGĐ ngày 15/7/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2019/QĐST-HNGĐ ngày 01/8/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lương Thị Mỹ N, sinh năm 1993

Địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1985

Địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện về việc ly hôn đề ngày 06/5/2019, được bổ sung tại bản tự khai và tại phiên toà, nguyên đơn chị Lương Thị Mỹ N trình bày:

- Về tình cảm: Chị và anh Lê Văn T kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện L theo Giấy chứng nhận kết hôn số 42/2017 ngày 13/7/2017 của UBND xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với bố mẹ anh T tại thôn M, xã M, huyện L. Quá trình chung sống, vợ chồng sống không hạnh phúc, vợ chồng chung sống với nhau được một tháng thì nảy sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do anh T ham chơi, không tu chí làm ăn, giữa hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Chị N đã nhờ gia đình nội ngoại hai bên động viên, thuyết phục nhưng anh T vẫn không thay đổi nên chị N đã sống ly thân với anh T, hai bên không ai quan tâm đến ai. Chị N xác định không thể tiếp tục chung sống với anh Thành và không còn tình cảm vợ chồng với anh T, yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Văn T.

- Về con chung: Không có.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị N khai không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đi với bị đơn Lê Văn T: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã thông báo thụ lý vụ án, triệu tập các bên đương sự, tống đạt thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến các đương sự hợp lệ nhưng anh Lê Văn T đều vắng mặt, do đó vụ án không thể tiến hành hoà giải được.

Theo xác nhận của Ban Công an xã M, huyện L: Anh Lê Văn T, sinh ngày 01/02/1985 có hộ khẩu thường trú tại xã M, huyện L; hiện tại anh Lê Văn T đang có mặt làm ăn và sinh sống tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Toà án nhân dân huyện Lệ Thuỷ đã gửi thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập các bên đương sự, tống đạt thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải hợp lệ nhưng bị đơn anh Lê Văn T đều vắng mặt, do đó vụ án không thể tiến hành hoà giải được; Tòa án tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập tham gia phiên toà đến anh T hợp lệ nhưng anh T vắng mặt tại phiên toà lần thứ nhất ngày 01/8/2019 và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử đã ra quyết định hoãn phiên toà. Tại phiên toà lần thứ hai, bị đơn anh Lê Văn T vẫn vắng mặt mặc dù Toà án đã tống đạt quyết định hoãn phiên toà hợp lệ. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Lê Văn T.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị Mỹ N và anh Lê Văn T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền, nên đây là một cuộc hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, lẽ ra anh, chị phải biết thương yêu, quý trọng chăm sóc lẫn nhau nhằm xây dựng một gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên, hai bên thiếu sự chia sẽ trong cuộc sống và thiếu quan tâm lẫn nhau. Theo chị N trình bày thì anh T không chăm lo làm ăn, thiếu quan tâm chị Nhung, chị N nhiều lần khuyên can nhưng anh T vẫn bỏ mặc, chị N chán nản nên bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống. Toà án đã triệu tập, tống đạt thông báo đến anh Lê Văn T hợp lệ nhưng anh T vẫn không đến Toà án giải quyết chứng tỏ anh không còn quan tâm đến đời sống chung của vợ chồng, không muốn bảo vệ hạnh phúc gia đình. Xét mục đích hôn nhân của chị Lương Thị Mỹ N không đạt được, đời sống chung của vợ chồng chị N và anh T không thể kéo dài, Hội đồng xét xử thấy cần thiết cho chị Lương Thị Mỹ N được ly hôn anh Lê Văn T là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về quan hệ con chung: Chị Lương Thị Mỹ N trình bày không có, Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lương Thị Mỹ N khai không có nợ chung, không có tài sản chung, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lương Thị Mỹ N phải chịu theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lương Thị Mỹ N được ly hôn anh Lê Văn T.

2/ Về án phí ly hôn: Buộc chị Lương Thị Mỹ N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lệ Thuỷ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2017/0005733 ngày 07 tháng 5 năm 2019. Chị Nhung đã nộp đủ án phí.

3/ Về quyền kháng cáo: Chị Lương Thị Mỹ N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/8/2019); anh Lê Văn T vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao nhận hoặc niêm yết tại nơi cư trú và trụ sở Uỷ ban nhân dân xã nơi cư trú để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.


31
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 32/2019/HNGĐ-ST ngày 21/08/2019 về ly hôn

Số hiệu:32/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lệ Thủy - Quảng Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 21/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về