Bản án 31/2020/HS-ST ngày 24/08/2020 về tội giết người

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 31/2020/HS-ST NGÀY 24/08/2020 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Ngày 24-8-2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 40/2020/TLST- HS ngày 23-7-2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2020/QĐXXST-HS ngày 03-8-2020; đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Ngọc Nguyên T (tên khác L), sinh ngày 06-9-1999 tại tỉnh Ninh Thuận; nơi ĐKNKTT và cư trú: Thôn ST B2, xã ĐR, huyện ĐD, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Thợ thạch cao; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Ngọc H, sinh năm 1961; con bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1967; hiện đều cư trú Thôn STB2, xã ĐR, huyện ĐD, tỉnh Lâm Đồng;

Tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giam ngày 31-3-2020, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Người bào chữa: Luật sư Nguyễn Thị Kim Loan - Văn phòng Luật sư Nguyễn Loan - Đoàn Luật sư tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Bị hại: Anh Huỳnh Viết H (Út), sinh năm 1995; nơi cư trú: Số 12, thôn ST C2, xã TT, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Ông Đặng Ngọc H; sinh năm 1961 (bố bị cáo ); nơi cư trú: Thôn ST B2, xã ĐR, huyện ĐD, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Bà Nguyễn Thị H; sinh năm 1989; nơi cư trú: Tổ 24, thôn Fn, xã HT, huyện ĐT, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Nhân chứng:

- Ông Lê Ngọc K, sinh năm 1988; nơi cư trú: số 45, thôn ST C2, xã TT, huyện ĐD, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Ông Lê Phước Hùng T, sinh năm 1993; nơi cư trú: số 48, thôn ST C2, xã TT, huyện ĐD, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Ông Ngô Văn N, sinh năm 1986; nơi cư trú: số 07 Thôn ST C2, xã TT, huyện ĐD, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Ông Tôn Minh T, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn ST C2, xã TT, huyện ĐD, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

- Ông Nguyễn Thái , sinh năm 1984; nơi cư trú: số 26, thôn ST C2, xã TT, huyện ĐD, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; cáo trạng truy tố, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Xuất phát từ mâu thuẫn và có lần bị hại anh Huỳnh Viết H (Út) đánh và đẩy bị cáo Nguyễn Ngọc Nguyên T (Linh) xuống sông Đa Nhim. Do vậy, trong một lần đi uống cà phê với anh K tại quán Biển Nhi (xã Tu Tra gần khu vực “cầu ông Thiều”), thấy bị hại anh H cũng có mặt và biết anh H thường uống cà phê tại đây, nên bị cáo T nảy sinh ý định đánh anh H để trả thù.

Thc hiện mục đích trên, khoảng 20 giờ ngày 30-3-2020, bị cáo T chuẩn bị 01 dao bấm (dài 24cm, cán dài 14 cm, trên cán có hình Bọ cạp; lưỡi dao dài 10cm, chỗ rộng nhất 2cm mũi dao vát nhọn) bỏ vào túi quần, điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 49E1-770.47 đến khu vực “cầu ông Thiều” sau đó đi đến quán cà phê Biển Nhi. Tại quán cà phê, có các anh Lê Ngọc K, anh Lê Phước Hùng T, anh Ngô Văn N và anh Tôn Minh T (đều trú tại thôn ST C2, xã TT, huyện ĐD) đang ngồi uống cà phê và chơi cờ cá ngựa, nên bị cáo T đến ngồi cùng anh Khoa và anh N.

Khoảng 15 phút sau, bị hại anh H đến ngồi giữa anh N và anh T; bị cáo T suy nghĩ “dùng dao đâm H nhưng do vướng người anh Nam và thấy H to cao, sợ đâm không trúng, sẽ bị H đánh lại”. Do vậy, lợi dụng lúc anh H đang xem mọi người chơi cá ngựa, bị cáo T đứng lên ra sau lưng anh H dùng tay trái giữ đầu, tay phải cầm dao kê vào cổ anh H cắt một nhát từ trái sang phải rồi bỏ chạy về xã Đạ Ròn, giấu dao xuống dưới nệm ghế Sofa trong phòng ngủ và cởi quần dài dính bùn đất cho vào chậu rồi lên giường ngủ, còn bị hại anh H sau khi bị cắt vào cổ thì la lên rồi được mọi người đưa vào Trung tâm y tế huyện Đơn Dương để cấp cứu (các bút lục 154-173; 176-189; 196-226).

Tại Bản kết luận pháp y số 84 /2020/TgT ngày 01-6-2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận bị hại anh H “bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 6%; tổn thương do vật sắc gây nên (bút lục 91-92).

Vật chứng thu giữ gồm: 01 dao bấm cán và lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 24cm; cán dài 14cm, trên cán có hình Bọ cạp, lưỡi dài 10cm, chỗ rộng nhất 02cm, mũi dao vát nhọn; 01 áo sơ mi dài tay màu trắng, cúc áo màu đen phần thân trước dính nhiều chất dịch màu nâu đỏ; 01 quần dài màu đen, thắt lưng có chữ C&O Jean, quần dính nhiều bùn đất màu nâu- đỏ (bút lục 58- 59).

Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ 01 xe mô tô hiệu Sirius màu sơn đen - trắng, biển số 49E1-770.47 thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị H chủ cơ sở thạch cao giao cho Thân sử dụng làm phương tiện đi lại, nên cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho chị Hà (các bút lục 58-59; 57).

Về bồi thường thiệt hại: Bị hại anh H kê khai chi phí điều trị thương tích số tiền 4.000.000đ; gia đình bị cáo đã bồi thường 5.000.000đ. Hiện bị hại yêu cầu bồi thường thu nhập bị mất trong thời gian điều trị và dưỡng bệnh với số tiền 6.000.000đ (bút lục 189).

Tại bản cáo trạng số 32/CT-VKS-P2 ngày 13-7-2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Nguyên T về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố; đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Nguyên T phạm tội “Giết người”.

- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự năm 2015; đề nghị xử phạt bị cáo T từ 08 năm đến 10 năm tù.

Về xử lý vật chứng, bồi thường, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Bị cáo T đã khai nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã quy kết và không thắc mắc gì; Bị cáo biết là sai, mong bị hại tha lỗi và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ.

Luật sư Loan bào chữa cho bị cáo T không thống nhất tội danh Viện kiểm sát quy kết đối với bị cáo. Bởi lẽ, trước đây giữa bị cáo và bị hại có mâu thuẫn, bị cáo chỉ mong muốn đánh bị hại để trả thù, không mong muốn tước đoạt tính mạng của bị hại, phù hợp với lời khai của bị hại, của bị cáo. Hậu quả của hành vi bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, nếu có và trong trường hợp này, bị cáo phạm tội giết người thuộc trường hợp do bị kích động mạnh, đề nghị Tòa xem xét chuyển tội danh, áp dụng khoản 1 Điều 125 của BLHS năm 2015 đối với bị cáo để quyết định hình phạt.

Bị hại anh H trình bày và thừa nhận rằng có mâu thuẫn cách đây đã 05 năm, sau đó không nói chuyện gì với nhau; về chi phí cấp cứu, chữa trị hết số tiền 6.000.000đ và đã được ông H (bố bị cáo) bồi thường xong. Tại phiên tòa hôm nay yêu cầu bị cáo bồi thường thu nhập bị mất, tổn thất tinh thần số tiền 6.000.000đ;

về hình phạt, đề nghị Tòa xét xử thep quy định pháp luật.

Người liên quan chị Hà xác định xe mô tô hiệu Sirius màu sơn đen - trắng, biển số 49E1-770.47 thuộc sở hữu của chị, có giao cho bị cáo Thân sử dụng làm phương tiện đi lại, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị; nay không có ý kiến gì.

Người liên quan ông H (bố bị cáo T) xác định đã bồi thường cho bị hại số tiền 6.000.000đ; nay cũng đã nộp trước khi xét xử số tiền 6.000.000đ để bồi thường cho bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trôngtụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành hợp pháp.

[2] Xuất phát từ mâu thuẫn và có lần bị hại anh Huỳnh Viết H đánh và đẩy bị cáo Nguyễn Ngọc Nguyên T xuống sông Đa Nhim, nên bị cáo T nảy sinh ý định đánh bị hại anh H để trả thù.

Để thực hiện hành vi, khoảng 20 giờ ngày 30-3-2020, bị cáo T chuẩn bị 01 dao bấm (dài 24cm, cán dài 14 cm, trên cán có hình Bọ cạp; lưỡi dao dài 10cm, chỗ rộng nhất 2cm mũi dao vát nhọn) bỏ vào túi quần, điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 49E1-770.47 đến khu vực “cầu ông Thiều” sau đó đi đến quán cà phê Biển Nhi vào ngồi cùng anh K và anh N. Khoảng 15 phút sau, bị hại anh H đến ngồi giữa anh N và anh T. Sau một lúc, lợi dụng lúc anh H đang xem mọi người chơi cá ngựa, bị cáo T đứng lên ra sau lưng anh H dùng tay trái giữ đầu, tay phải cầm dao kê vào cổ anh H cắt một nhát từ trái sang phải rồi bỏ chạy về xã Đạ Ròn, giấu dao xuống dưới nệm ghế Sofa trong phòng ngủ và cởi quần dài dính bùn đất cho vào chậu rồi lên giường ngủ, còn bị hại anh H sau khi bị cắt vào cổ thì la lên rồi được mọi người đưa vào Trung tâm y tế huyện Đơn Dương để cấp cứu.

Hậu quả của hành vi tuy làm cho bị hại anh H chỉ bị thương tích 6% là do được cấp cứu kịp thời. Hành vi bị cáo dùng tay trái giữ đầu bị hại, dùng tay phải cầm dao cắt cổ bị hại thuộc vùng trọng yếu, buộc bị cáo phải nhận thức hành vi thực hiện là nguy hiểm tính mạng của bị hại.

Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng xuất phát từ mâu thuẫn nên bị cáo tức và trả thù cũng không có căn cứ. Bởi lẽ, theo bị cáo khai mâu thuẫn đã 03 năm nay, còn bị cáo cho rằng có mâu thuẫn đã 05 năm, thì không thể cho rằng bị kích động mạnh.

Đối chiếu lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại anh H, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ; có căn cứ để tuyên bố bị cáo phạm tội “Giết người” theo quy định điểm n khoản 1 Điều 123 của BLHS năm 2015 là có căn cứ.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng; đã xâm hại đến khách thể tính mạng con người được pháp luật bảo vệ. Do vậy, cần quyết định mức án nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi bị cáo thực hiện:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo T đã bị áp dụng tiết tăng nặng định khung điểm n khoản 1 Điều 123 của BLHS năm 2015, không bị áp dụng tiết tăng nặng quy định khoản 1 Điều 52 của BLHS năm 2015.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai cáo, đã bồi thường cho bị hại nên áp dùng các tỉnh tiết giảm nhẹ quy định các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015.

- Tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi bị cáo thực hiện phạm tội chưa đạt nên áp dụng Điều 15; khoản 3 Điều 57; khoản 1 Điều 54 của BLHS năm 2015 để quyết định mức hình phạt.

[5] Về bồi thường thiệt hại: Quá trình điều tra, gia đình bị cáo T đã bồi thường cho bị hại anh H số tiền 6.000.000đ. Tại phiên tòa bị hại anh H yêu cầu bồi thường thu nhập bị mất, tổn thất tinh thần số tiền 6.000.000đ; bị cáo chấp nhận bồi thường. Xét việc thỏa thuận bồi thường là tự nguyện, nên buộc bị cáo bồi thường cho bị hại anh H số tiền 6.000.000đ.

Đối với số tiền 6.000.000đ, ông nộp để bồi thường cho bị hại (theo biên lai thu tiền số AA/2010/03140 ngày 20-8-2020 của Cục THADS tỉnh Lâm Đồng) được tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

[6] Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 dao bấm cán và lưỡi kim loại màu đen, trên cán dao có hình bọ cạp, cán dao dài 14 cm, lưỡi dao chỗ rộng nhất 02cm, mũi dao vát nhọn.

- Đối với 01 áo sơ mi dài tay màu trắng, cúc áo màu đen phần thân trước dính nhiều chất dịch màu nâu đỏ; 01 quần dài màu đen, thắt lưng có chữ C&O Jean, quần dính nhiều bùn đất màu nâu-đỏ giá trị sử dụng không lớn, nên cũng cần tịch thu tiêu hủy.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra PC01 Công an tỉnh Lâm Đồng và Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng ngày 15-7- 2020).

Đối với 01 xe mô tô hiệu Sirius màu sơn đen - trắng, biển số 49E1-770.47 thuộc sở hữu của chị H giao cho bị cáo Thân sử dụng làm phương tiện đi lại. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho chị H; tại phiên tòa chị H không có ý kiến gì nên không đề cập.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật; đối với án phí dân sự bị cáo đã bồi thường trước khi xét xử nên không phải chịu án phí dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Nguyên Th phạm tội “Giết người”. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38, Điều 15; khoản 3 Điều 57 của Bộ luật hình sự năm 2015.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Nguyên T 07 (bảy) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31-3-2020.

2. Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 2015; các Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Nguyên T bồi thường cho bị hại anh Huỳnh Viết Hòa số tiền 6.000.000đ.

Tạm giữ số tiền 6.000.000đ, bị cáo nộp (ông H nộp thay theo biên lai thu tiền số AA/2010/03140 ngày 20-8-2020 của Cục THADS tỉnh Lâm Đồng) được tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải bàu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 dao bấm cán và lưỡi kim loại màu đen, trên cán dao có hình bọ cạp, cán dao dài 14 cm, lưỡi dao chỗ rộng nhất 02cm, mũi dao vát nhọn; 01 áo sơ mi dài tay màu trắng, cúc áo màu đen phần thân trước dính nhiều chất dịch màu nâu đỏ; 01 quần dài màu đen, thắt lưng có chữ C&O Jean, quần dính nhiều bùn đất màu nâu-đỏ.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra PC01 Công an tỉnh Lâm Đồng và Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng ngày 15-7- 2020).

4. Về án phí: Áp dụng các Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Nguyên T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo; bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan liên quan chỉ được quyền kháng cáo phần có liên quan.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


2
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 31/2020/HS-ST ngày 24/08/2020 về tội giết người

Số hiệu:31/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Lâm Đồng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:24/08/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về