Bản án 31/2020/HS-ST ngày 05/05/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

BẢN ÁN 31/2020/HS-ST NGÀY 05/05/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 05 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 17/2020/HS-ST ngày 13 tháng 02 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2020; Thông báo về việc hoãn phiên tòa và thời gian mở lại phiên tòa số 03/TB-TA ngày 17 tháng 3 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2020/QĐST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2020; Thông báo về việc tiếp tục đưa vụ án ra xét xử số 03/TB-TA ngày 16 tháng 4 năm 2020 và Thông báo về việc hoãn phiên tòa và thời gian mở lại phiên tòa số 05/TB-TA ngày 22 tháng 4 năm 2020, đối với bị cáo:

Sơn Thị Hồng T, sinh năm: 2000 tại Sóc Trăng; hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Khơme; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sơn Ngọc C, sinh năm: 1979 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1977; có chồng La Thanh L, sinh năm: 2000 và có 01 con sinh năm: 2018; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).

Bị hại: Chị Sơn Thị N, sinh năm: 1981 (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt). Hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: Tổ 16, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 14 giờ 00 phút, ngày 30-11-2019, Sơn Thị Hồng T bế con đi bộ đến phòng trọ của người quen là chị Sơn Thị N để chơi. Lúc này, chị N đi vắng chỉ có cháu Danh Thị Ngọc B, sinh năm: 2007 (là con của chị N) ở phòng trọ đang chơi với cháu của chị N khoảng 2 tuổi. Tại đây, Sơn Thị Hồng T ngồi chơi được khoảng 15 phút thì cháu N ra phía sau rửa chén bát và làm vệ sinh cho cháu của chị N, lợi dụng không có ai nên Sơn Thị Hồng T nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của chị N để bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định, Sơn Thị Hồng T đến kéo chiếc tủ sắt đựng quần áo do trước đây đã nhìn thấy chị N cất vàng bên trong nên liền mở tủ (tủ không khóa) để lục tìm tài sản. Sơn Thị Hồng T phát hiện 01 hộp gỗ bên trong đựng 14 vòng xi men đeo tay bằng kim loại vàng 18K và 02 sợi dây chuyền bằng kim loại vàng 18K nên lấy cho vào trong túi áo khoác cất giấu rồi bỏ về.

Sau đó, Sơn Thị Hồng T mang số vàng trên đến tiệm vàng H thuộc khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu do ông Vũ Trọng H làm chủ bán được 41.000.000đ. Số tiền có được Sơn Thị Hồng T mua 02 chiếc nhẫn vàng 18K trọng lượng 1,4 chỉ với số tiền 2.600.000đ, gửi cho mẹ là bà Nguyễn Thị L 2.000.000đ, trả cho một người tên Lĩnh (không xác định được họ tên, địa chỉ) 4.000.000đ, chuộc lại số vàng mà trước đó Sơn Thị Hồng T đã cầm cố tại tiệm cầm đồ K với số tiền 5.120.000đ và mua sắm một số vật dụng cá nhân. Tổng cộng số tiền Sơn Thị Hồng T đã sử dụng hết 20.000.000đ, còn lại 21.000.000đ.

Ngày 03-12-2019, do cần tiền tiêu xài nên chị N mở tủ thì phát hiện số vàng bị mất và đến cơ quan công an trình báo.

Tại cơ quan Công an, Sơn Thị Hồng T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 01/KL.HĐĐG ngày 30-12-2019 của Hội đồng định giá tài sản thuộc Ủy ban nhân dân huyện Long Điền kết luận: 02 bộ vòng ximen bằng vàng 18k gồm 14 chiếc, với tổng trọng lượng 10,2 chỉ và 02 sợi dây chuyển có mặt bằng vàng 18K tổng trọng lượng 06 chỉ. Tổng giá trị tài sản 42.930.000đ.

Đi với ông Vũ Trọng H (chủ tiệm vàng H) khi mua vàng và bà Nguyễn Thị L (mẹ của T) nhận số tiền 2.000.000đ của T không biết do T phạm tội mà có được nên không có cơ sở để xử lý.

Về vật chứng: 02 chiếc nhẫn kim loại màu vàng, trên mặt nhẫn có đính hạt đá màu trắng và số tiền 21.000.000đ. Quá trình điều tra xác định số tài sản này do phạm tội mà có nhưng Sơn Thị Hồng T đã dùng tài sản cá nhân bồi thường cho chị N. Do đó, ngày 11-01-2020, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Long Điền đã trao trả lại số vàng và tiền cho Sơn Thị Hồng T.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 15-12-2019, Sơn Thị Hồng T đã tự nguyện bồi thường cho chị N 1,8 lượng vàng 18K, sau khi nhận đủ tài sản, chị N không có yêu cầu gì thêm và có đơn bãi nại.

Tại Cáo trạng số 23/CT-VKSLĐ ngày 11-02-2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố bị cáo Sơn Thị Hồng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Sơn Thị Hồng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thật sự ăn năn hối cải, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố; không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về nội dung: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 30-11-2019, tại phòng trọ của chị Sơn Thị N thuộc ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Sơn Thị Hồng T đã có hành lén lút chiếm đoạt của chị Sơn Thị N 02 bộ vòng ximen đeo tay bằng kim loại vàng 18K gồm 14 chiếc và 02 sợi dây chuyền bằng kim loại vàng 18K với tổng trọng lượng 01 lượng 6,2 chỉ vàng 18K trị giá 42.930.000đ. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

[3] Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam, lười lao động mà muốn có tiền tiêu xài cho bản thân nên bất chấp quy định của pháp luật, cố ý thực hiện tội phạm. Vì vậy, mức hình phạt đối với bị cáo phải tương xứng và phù hợp với hành vi phạm tội, nhằm bảo đảm tính giáo dục, răn đe đối với bị cáo, đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo thật sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tự nguyện bồi thường thiệt hại, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, con còn nhỏ và được bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[6] Đối với ông Vũ Trọng H khi mua vàng và bà Nguyễn Thị L nhận số tiền 2.000.000đ của bị cáo, nhưng không biết đó là tài sản do bị cáo trộm cắp được mà có nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Điền không xử lý là đúng quy định của pháp luật.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận tiền bồi thường bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét, giải quyết:

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Sơn Thị Hồng T, phạm tội “Trộm cắp tài sản”,

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Sơn Thị Hồng T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét, giải quyết.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Sơn Thị Hồng T phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đông án phí hinh sư sơ thâm.

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.


56
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Văn bản được dẫn chiếu
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 31/2020/HS-ST ngày 05/05/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:31/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Điền - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 05/05/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về