Bản án 31/2020/HNGĐ-ST ngày 13/07/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂ DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 31/2020/HNGĐ-ST NGÀY 13/07/2020 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ny 13 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 33/2020/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2020/QĐXX ngày 08 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:

Ngun đơn: Chị Tào Thị Thùy L - Sinh năm 1994.

Bị đơn: Anh Bùi Tiến H - Sinh năm 1990

Cùng địa chỉ: SN T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt chị L, vắng mặt anh H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như tại phiên tòa chị Tào Thị Thùy L trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Bùi Tiến H kết hôn với nhau năm 2014, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân thị trấn Thường Xuân, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung với nhau tại nhà anh H hòa thuận hạnh phúc được một thời gian đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, quan điểm cách sống luôn trái ngược nhau. Mặt khác anh H còn chơi bời, nợ nần nhiều, không tu chí làm ăn, không quan tâm đến vợ con. Chị và gia đình đã khuyên bảo nhưng anh H không nghe dẫn đến mâu thuẫn triền miên xảy ra, không khí trong gia đình luôn nặng nề căng thẳng. Mâu thuẫn trầm trọng nhất kể từ tháng 9/2018 chị đã dọn ra ngoài để ở và vợ chồng sống ly thân nhau từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

Về con chung: Chị và anh H có 01 con chung, cháu Bùi Song V - Sinh ngày 27/9/2014. Ly hôn, chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu V và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản, công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía anh Bùi Tiến H: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập hợp, thông báo phiên họp kiểm tra giao nộp chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, thông báo thay thế thành viên những người tiến hành tố tụng và thời gian mở lại phiên tòa nhưng anh H không có mặt.

Thu thập chứng cứ tại địa phương: Chị Tào Thị Thùy L, anh Bùi Tiến H kết hôn với nhau năm 2014 và chung sống với nhau tại địa phương. Quá trình vợ chồng chung sống với nhau phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân cụ thể như thế nào phố không rõ, khi biết chị L làm đơn ly hôn, phố cũng đã khuyên bảo hòa giải nhưng không có kết quả. Chị L đã ra ngoài để ở, vợ chồng sống ly thân nhau không ai quan tâm đến ai. Nay chị L xin ly hôn đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Vợ chồng chị L, anh H có 01 con chung là cháu Bùi Song V - Sinh ngày 27/9/2014. Trường hợp anh H, chị L phải ly hôn, việc giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết.

Ti biên bản lấy lời khai ngày 05/5/2020 bà Phạm Thị Tuyết M (mẹ đẻ của anh H) cũng thừa nhận sau khi kết hôn chị Linh, anh H sống chung cùng bà, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H chơi bời, không tu chí làm ăn nên vợ chồng cãi vã nhau. Bà cũng đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh H không nghe. Từ tháng 9/2018 chị L đã bỏ ra ngoài để ở và vợ chồng sống ly thân nhau. Nay chị L làm đơn xin ly hôn, bản thân bà luôn mong muốn con cái được hạnh phúc, nhưng thực tế cuộc sống hôn nhân giữa chị L, anh H không đạt được, nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung, cháu V còn nhỏ đang ở với chị L, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa anh H vắng mặt, chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không bổ sung thêm nội dung nào khác.

Đi diện VKS phát biểu ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký, nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên đề nghị Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự để xét xử. Về yêu cầu khởi kiện: đề nghị HĐXX căn cứ vào Điều 56, 81, 82 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Tào Thị Thùy L khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Tào Thị Thùy L, anh Bùi Tiến H có địa chỉ tại thành phố Thanh Hóa, nên Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Bùi Tiến H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, thông báo thay thế thành viên những người tiến hành tố tụng và thời gian mở lại phiên tòa. Tại phiên tòa vắng mặt anh H, Tòa án căn cứ vào khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS để xét xử.

[2] Về hôn nhân: Chị Tào Thị Thùy L, anh Bùi Tiến H kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Thường Xuân, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị L thấy rằng: hôn nhân muốn tồn tại trước hết vợ chồng phải thương yêu nhau, tin tưởng nhau và có trách nhiệm với nhau cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Qua xem xét lời khai của chị L, của bà Phạm Thị Tuyết M, cung cấp của chính quyền địa phương nơi anh H sinh sống thể hiện vợ chồng chị L, anh H mâu thuẫn đã kéo dài, mặc dù được khối phố và gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ cuối năm 2018 đến nay không ai quan tâm đến ai. Sau khi thụ lý vụ án đến thời điểm này, dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình nhưng anh H đã không đến Tòa án để làm việc, điều đó cho thấy anh H không có ý thức níu kéo lại hạnh phúc gia đình mà mặc nhiên để chị L đơn phương xin ly hôn. Do vậy HĐXX có đủ cơ sở xác định tình trạng mâu thuẫn giữa chị L, anh H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đich hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu của chị L, xử cho chị được ly hôn anh Bùi Tiến H.

[3] Về con chung: Chị L, anh H có 01 con chung, cháu Bùi Song V- Sinh ngày 27/9/2014. Ly hôn, chị L xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu V và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Xét yêu cầu xin được trực tiếp nuôi con của chị L thấy rằng, cháu V đang còn nhỏ, hiện nay đang ở với chị. Anh H nghề nghiệp không ổn định, lại không tu trí làm ăn, nên giao cháu V cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng sẽ đảm bảo các điều kiện chăm sóc tốt hơn. Căn cứ vào Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Bùi Song V cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

[4] Về tài sản: Chị L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27, khoản 1.1 điều 1 phần I, mục A Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, chị Tào Thị Thùy L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 2 Điều 227, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5, Điều 27, khoản 1. 1 Điều 1 phần I, mục A Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án

Về hôn nhân: Xử cho chị Tào Thị Thùy L được ly hôn anh Bùi Tiến H.

Về con: Công nhận cháu Bùi Song V - Sinh ngày 27/9/2014 là con chung của chị Tào Thị Thùy L, anh Bùi Tiến H. Giao cháu Song V cho chị Tào Thị Thùy L trực tiếp nuôi dưỡng, anh Bùi Tiến H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh H có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản, công nợ: Chị L không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Án phí: Chị L phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị L đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000585 ngày 06/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa (chị L đã nộp đủ tiền án phí).

Chị Linh có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Hoàng có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết./.


12
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 31/2020/HNGĐ-ST ngày 13/07/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:31/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 13/07/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về