Bản án 31/2019/HNGĐ-ST ngày 20/08/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY - TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 31/2019/HNGĐ-ST NGÀY 20/08/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 20 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 66/2019/TLST-HNGĐ ngày 25/3/2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/7/2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2019/QĐST-HNGĐ ngày 07/8/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ T, địa chỉ: Đ3, thôn V, xã P, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

2. Bị đơn: Anh Đinh Viết A, địa chỉ: Đ3, thôn V, xã P, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 15/3/2019, bản tự khai ngày 12/4/2019 cũng như tại phiên toà, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ T đều trình bày: Chị và anh Đinh Viết A trước đây yêu nhau và kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 06/3/2018. Sau kết hôn, vợ chồng sống chung cùng gia đình bố mẹ anh A, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc chỉ được khoảng 8 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh A không chịu khó làm ăn, không chăm lo gia đình mà thường xuyên theo bạn bè, ăn chơi nhậu nhẹt sa đà dẫn đến vợ chồng gây gổ nhau làm mất mát tình cảm. Chị đã nhiều lần góp ý, khuyên can để anh A thay đổi nhưng không có tác dụng gì nên chị đã bồng con về nhà bố mẹ đẻ sống từ 26/02/2019 cho đến nay, không ai quan tâm gì đến ai nữa. Hiện tại chị T xác định tình cảm giữa chị và anh A thực sự đã hết và yêu cầu được ly hôn anh A.

Bị đơn anh Đinh Viết A vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai cũng như các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được tống đạt hợp lệ.

Con chung: Chị T trình bày: Chị và anh A có một con chung Đinh Viết K, sinh ngày 13/8/2018. Từ khi vợ chồng ly thân con vẫn ở với chị T. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con, vì chị đủ khả năng và điều kiện nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, kết quả hỏi và tranh luận tại phiên tòa;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về tố tụng: Bị đơn anh Đinh Viết A đã được Tòa án tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử; giấy triệu tập và quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ T và anh Đinh Viết A đăng ký kết hôn với nhau ngày 06/3/2018 tại UBND xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng gia đình bố mẹ anh A, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc chỉ được thời gian ngắn đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp nhau nên thường xuyên xảy ra bất hòa. Anh A thiếu quan tâm xây dựng hạnh phúc gia đình, thể hiện qua việc ham chơi theo bạn bè, không chăm lo vợ, con, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải vã, xích mích nhau làm cho tình cảm mất mát. Chị T cũng như gia đình, bạn bè hai bên đã nhiều lần vận động, góp ý và mong rằng anh A thay đổi nhưng không có kết quả nên chị đã sống ly thân từ tháng 02/2017 cho đến nay, không ai quan tâm gì đến ai nữa.

Anh Đinh Viết A đã được Tòa án thông báo các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần, kể cả phiên tòa lần thứ hai được tống đạt hợp lệ qua đường bưu điện và trực tiếp nhưng anh A vẫn vắng mặt không có lý do. Chứng tỏ anh A đã nhận được các thông báo của Tòa án nhưng cố tình không chấp hành các thông báo, triệu tập của Tòa án, không quan tâm bảo vệ hạnh phúc gia đình và không tha thiết hàn gắn tình cảm với chị T nữa. Chị T thì xác định tình cảm vợ chồng thực sự đã hết và yêu cầu được ly hôn anh A.

Xét thấy, tình trạng vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần xử cho hai bên ly hôn nhau là phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2]. Về con chung:

Chị T, anh A có một con chung: Đinh Viết K, sinh ngày 13/8/2018, ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con. Hội đồng xét xử thấy, con chung của chị T và anh A thuộc trường hợp con dưới 36 tháng tuổi nên cần chấp nhận yêu cầu của chị T giao con cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với các Điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; về cấp dưỡng nuôi con, mặc dù đã được Hội đồng xét xử phân tích về quyền lợi của con và trách nhiệm của bố mẹ đối với con khi ly hôn nhưng chị T một mực không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con, vì chị đủ khả năng và điều kiện nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3].Tài sản chung: Không có, chị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4].Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình: Xử cho chị Nguyễn Thị Mỹ T và anh Đinh Viết A được ly hôn nhau.

2.Về con chung: Áp dụng các Điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình: Xử giao cho chị Nguyễn Thị Mỹ T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con Đinh Viết K, sinh ngày 13/8/2018. Anh Đinh Viết A không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị T đủ khả năng, điều kiện nuôi con và không yêu cầu. Anh Đinh Viết A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị đã nộp theo biên lai số: 0001990 ngày 25/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lệ Thuỷ. Chị T đã nộp đủ án phí.

Chị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 20/8/2019; anh A được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm.


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 31/2019/HNGĐ-ST ngày 20/08/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:31/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lệ Thủy - Quảng Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 20/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về