Bản án 308/2018/HSPT ngày 03/10/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 308/2018/HSPT NGÀY 03/10/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 03 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 279/2018/TLPT-HS ngày 28/8/2018 đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 39/2018/HS-ST, ngày 26/07/2018 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’Gar, tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Đ (tên gọi khác: Q); sinh năm 1984; tại tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thị trấn BS, huyện HN, tỉnh Bình Định; chỗ ở trước khi phạm tội: Không xác định; trình độ học vấn: 2/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và con bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1955, hiện đang trú tại: Thị trấn BS, huyện HN, tỉnh Bình Định; Bị cáo chưa có vợ con;

- Bị cáo có 03 tiền án:

+ Ngày 13/01/2003, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án số 75/HSST. Ngày 30/8/2005 được đặc xá trước thời hạn, đồng thời chấp hành xong bản án.

+ Ngày 22/5/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 18/2008/HSST. Ngày 02/12/2008 chấp hành xong bản án.

+ Ngày 02/12/2010, bị Tòa án Q sự khu vực 2 – Q khu V xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 11/2010/HSST, đến năm 2013 chấp hành xong hình phạt, nhưng chưa chấp hành xong bản án về phần các biện pháp tư pháp và án phí;

- Bị cáo có 01 tiền sự: Ngày 28/4/2016, bị Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, đến ngày 26 tháng 11 năm 2017 chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/3/2018, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 12/3/2018, Nguyễn Văn Đ cùng với bạn mới quen tên T (không xác định được nhân thân, lai lịch) bàn bạc, thống nhất cùng nhau xuống huyện CM để trộm cắp bình ắc quy trên xe ô tô tải để lấy tiền tiêu xài. Đ điều khiển xe mô tô (không rõ biển kiểm soát) của T chở T ngồi phía sau từ thành phố B đi dọc theo tuyến đường tỉnh lộ 8 đến thị trấn QP, huyện CM để tìm các xe ô tô tải đỗ bên đường không có ai trông coi quản lý sẽ tiến hành trộm cắp bình ắc quy của xe.

Đến khoảng 02 giờ ngày 13/3/2018, T điều khiển xe mô tô chở Đ đi từ thị trấn QP hướng về thành phố B, đến địa bàn thị trấn EP, huyện CM thì T dừng lại cảnh giới, Đ sử dụng 03 cờ lê 10, 13, 14 của T đã chuẩn bị từ  trước đi đến xe ô tô biển kiểm soát 47P – 1102 của ông Trần Văn D đang đỗ ở bãi đất trống bên đường tháo ốc vít lấy 02 bình ắc quy hiệu GS (12V – 85Ah) trên xe ô tô. Khoảng 15 phút sau, Đ tháo rời 02 bình ắc quy ra khỏi xe, bỏ vào trong bao tải và mang đi thì bị anh Phạm Quốc T1 phát hiện, truy đuổi và cùng mọi người bắt giữ được Đ giao cho Công an còn T điều khiển xe mô tô trốn thoát.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 24/KL - HĐĐGTS ngày 13/3/2018 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện CM đã kết luận: 02 bình ắc quy nhãn hiệu GS 95D31R PLUS ONE đã qua sử dụng giá trị còn lại 2.600.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 39/2018/HS-ST, ngày 26/7/2018 Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/3/2018.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ, tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của bị cáo và các đương sự.

Ngày 30/7/2018, bị cáo Nguyễn Văn Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng và bản án sơ thẩm đã nêu cũng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm và giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, mức hình phạt 03 năm 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo có phần nghiêm khắc. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar về phần hình phạt. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo không bào chữa, tranh luận gì thêm mà chỉ đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 02 giờ ngày 13 tháng 3 năm 2018, tại thị trấn EP, huyện CM bị cáo Nguyễn Văn Đ đã lén lút thực hiện hành vi chiến đoạt 02 bình ắc quy trên xe ôtô biển số kiểm soát 47P – 1102 của ông Trần Văn D có tổng giá trị 2.600.000 đồng. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn Đ, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người bị hại mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt chỉ 2.600.000 đồng (gần mức thấp về định lượng theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự) nhưng hành vi của bị cáo là tái phạm nguy hiểm nên thuộc trường hợp quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù. Song, mức hình phạt 03 năm 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là có phần nghiêm khắc so với tính chất, mức độ, hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo là có căn cứ nên cần chấp nhận – Sửa bản án sơ thẩm số 39/2018/HSST ngày 26/7/2018 Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk về phần hình phạt.

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Văn Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 21/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;

[1] Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ: Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2018/HSST ngày 26/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk về phần hình phạt.

[2] Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ tạm giam, ngày 13/3/2018.

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


46
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 308/2018/HSPT ngày 03/10/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:308/2018/HSPT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 03/10/2018
Là nguồn của án lệ
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về