Bản án 302/2019/HNGĐ-ST ngày 20/11/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 302/2019/HNGĐ-ST NGÀY 20/11/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 20 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 1006/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 9 năm 2019 về việc tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 360/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 201/2019/QĐST-HNGĐ ngày 05/11/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thảo T, sinh năm 1990

Địa chỉ: ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

Bị đơn: Ông Nguyễn Khắc A, sinh năm 1990

Địa chỉ thường trú: Ô 3, Khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.

Địa chỉ tạm trú: ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.

(Các đương sự đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại Đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thảo T trình bày:

Do quen biết và được gia đình đồng ý nên bà Nguyễn Thị Thảo T với ông Nguyễn Khắc A xác lập quan hệ vợ chồng, có tổ chức lễ cưới vào năm 2008 và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn H, huyện Đ vào ngày 01/10/2013. Đời sống chung vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu, nhưng đến năm 2015 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên gây gỗ, ông A không lo làm ăn, ham mê cơ bạc, không quan tâm chăm sóc vợ con nên bà T về nhà mẹ ruột sống từ năm 2015 cho đến nay. Nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng với ông A nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông A.

Về con chung: Bà T với ông A có một con chung tên Nguyễn Đình Phúc A1, sinh ngày 03/3/2014; bà T đang nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn bà T yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung; bà T không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà T xác định không có nợ chung với ông A.

Bị đơn ông Nguyễn Khắc A vắng mặt và không có giao nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến, đề nghị của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và không có yêu cầu phản tố trong vụ án.

Toà án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng bị đơn ông A vắng mặt nên vụ án không hòa giải được và Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên toà, nguyên đơn bà T và bị đơn ông A đều vắng mặt, nhưng bà T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tố tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bà Nguyễn Thị Thảo T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Khắc A. Căn cứ theo Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tố tụng là “tranh chấp ly hôn”, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An theo thủ tục sơ thẩm.

[2] Nguyên đơn bà T, bị đơn ông A đều vắng mặt tại phiên tòa, nhưng bà T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hợp lệ; còn ông A vắng mặt nhưng không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ theo Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Theo Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thì nguyên đơn bà T yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về tình cảm vợ chồng; nuôi con chung; không yêu cầu về cấp dưỡng; không tranh chấp về tài sản chung và thừa nhận không có nợ chung với bị đơn. Bị đơn ông A không có yêu cầu phản tố trong vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chỉ xem xét đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và giải quyết hậu quả theo quy định pháp luật.

[4] Theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn và sự thừa nhận của đương sự thì bà T và ông A xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn H, huyện Đ vào ngày 01/10/2013 là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ.

[5] Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông A là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên gây gổ; ngoài ra ông A còn ham mê cờ bạc, không lo làm ăn nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Mặt khác, ông A đều vắng mặt tại các phiên hòa giải và tại các phiên tòa cho thấy ông A không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà T. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông A đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà T đối với ông A.

[6] Theo Giấy khai sinh và sự thừa nhận của đương sự thì bà T và ông A có một con chung tên Nguyễn Đình Phúc A1, sinh ngày 03/3/2014; bà T đang nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn bà T yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi con. Căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cần giao cháu A1 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

[7] Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà T không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện nên ông A không phải cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.

[8] Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[9] Về nợ chung: Đương sự trình bày không có nợ chung với nhau nên không đề cập.

[10] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thảo T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Căn cứ vào Điều 53, 56, 81, 82, 83, 84 và khoản 1 Điều 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị Thảo T đối với ông Nguyễn Khắc A. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thảo T được ly hôn với ông Nguyễn Khắc A.

Về nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị Thảo T và ông Nguyễn Khắc A có một con chung tên Nguyễn Đình Phúc A1, sinh ngày 03/3/2014; bà T đang nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, bà T được quyền tiếp tục nuôi con.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Ông Nguyễn Khắc A không phải cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Đương sự trình bày không có nợ chung.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thảo T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo Biên lai số 0003662 ngày 18 tháng 9 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa sang thi hành án phí.

Án xử sơ thẩm, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 302/2019/HNGĐ-ST ngày 20/11/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:302/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:20/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về