Bản án 30/2020/DS-ST ngày 04/08/2020 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG- TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 30/2020/DS-ST NGÀY 04/08/2020 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 04/8/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 37/2020/TLST-DS ngày 14 tháng 01 năm 2020 về việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2020/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 7 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2020/QĐST-DS ngày 24/7/2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần B. Địa chỉ: Tòa nhà C, phường C, Quận H, TP.Hà Nội. Địa chỉ liên hệ: Phường v, TP. C, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn S, chức vụ: Tổng Giám Đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Văn A, chức vụ: Phó Giám Đốc phụ trách Phòng giao dịch huyện T.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng N, sinh năm: 1971. Địa chỉ: Khóm x, TT. T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Ông A có mặt. Ông N vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Ông Bùi Văn A là ngƣời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngân hàng Thương mại cổ phần B yêu cầu ông Nguyễn Hoàng N thanh toán toàn bộ nợ gốc, lãi, lãi phạt và các phí phạt theo Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số 27/031116/04/820 ngày 03/11/2016 số tiền tính đến ngày 04/8/2020 là 69.741.000đ (gốc là 56.580.000đ; lãi là 13.161.000đ). Đồng thời yêu cầu ông N phải chịu lãi suất quá hạn từ ngày 05/8/2020 cho đến khi tất toán khoản vay.

Tại phiên tòa hôm nay, ông A vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Bị đơn ông Nguyễn Hoàng N vắng mặt tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông N trả tiền vay và bị đơn ông Nguyễn Hoàng N có hộ khẩu tại Khóm X, TT. T, huyện Tam Nông nên theo quy định khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân huyện Tam Nông có thẩm quyền giải quyết vụ án.

[2] Bị đơn ông Nguyễn Hoàng N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên xét xử vắng mặt ông N là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự [3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa hôm nay, Ngân hàng Thương mại cổ phần B yêu cầu ông Nguyễn Hoàng N phải có trách nhiệm trả số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số 27/031116/04/820 ngày 03/11/2016 số tiền tính đến ngày 04/8/2020 là 69.741.000đ (gốc là 56.580.000đ;

lãi là 13.161.000đ). Đồng thời yêu cầu ông N phải chịu lãi suất quá hạn từ ngày 05/8/2020 cho đến khi tất toán khoản vay. Căn cứ để Ngân hàng Thương mại cổ phần B yêu cầu là hợp đồng tín dụng có chữ ký của ông Nguyễn Hoàng N.

[4] Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng đúng theo quy định, nhưng ông N cố tình trốn tránh, thay đổi địa chỉ không thông báo cho nguyên đơn biết. Tòa án đã đăng thông báo giải quyết vụ án trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng ông N vẫn vắng mặt tại các buổi hòa giải, xét xử và không có văn bản trình bày ý kiến. Do đó, đủ cơ sở xác định ông N có ký kết hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Thương mại cổ phần B. Các khoản vay đã quá hạn nhưng ông N chưa thanh toán cho Ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ vì vậy yêu cầu của Ngân hàng tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí: Do yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần B được chấp nhận nên ông Nguyễn Hoàng N phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;

- Áp dụng các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự;

- Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần B đối với ông Nguyễn Hoàng N.

2/ Buộc Nguyễn Hoàng N có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B số tiền gốc là 56.580.000đ và lãi tính đến ngày 04/8/2020 là 13.161.909đ, tổng cộng 69.741.909đ (Sáu mươi chín triệu bảy trăm bốn mươi một nghìn chín trăm lẻ chín đồng).

Ông Nguyễn Hoàng N còn phải chịu lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số 27/031116/04/820 ngày 03/11/2016 kể từ ngày 05/8/2020 cho đến khi thanh toán xong số tiền vay.

3/ Về án phí:

- Ông Nguyễn Hoàng N có trách nhiệm nộp 3.487.000đ (Ba triệu bốn trăm tám mươi bảy nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Ngân hàng Thương mại cổ phần B được nhận lại 1.453.000đ (Một triệu bốn trăm năm mươi ba nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số BH/2018/0005829 quyển số 0000117 ngày 14/01/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông.

Án xử công khai, có mặt đại diện nguyên đơn; vắng mặt bị đơn. Báo cho các đương sự có mặt biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.


2
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 30/2020/DS-ST ngày 04/08/2020 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:30/2020/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tam Nông - Đồng Tháp
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:04/08/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về