Bản án 30/2018/HNGĐ-ST ngày 19/04/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 30/2018/HNGĐ-ST NGÀY 19/04/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN 

Ngày 19/4/2018, Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 81/2018/HNGĐ ngày 06/3/2018 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2018/HNGĐ ngày 03/4/2018 giữa:

- Nguyên đơn: Nguyễn Tiểu Th – Sinh năm: 1992

Địa chỉ: Tổ dân phố Ph Th1, phường N D, thị xã N H, tỉnh Kh H. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Ông Lê Hùng Ph − Sinh năm: 1987

Địa chỉ: Thôn Ph H, xã N Í, thị xã N H, tỉnh Kh H. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Tiểu Th trình bày: Tôi và ông Lê Hùng Ph kết hôn năm 2015 tại UBND xã N Í, thị xã N H, tỉnh Kh H. Trong thời gian chung sống với nhau, giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, do tính tình không hòa hợp, thường xuyên kình cãi, ông Ph thường xuyên uống rượu, xúc phạm danh dự và đánh đập nên tình cảm của tôi dành cho ông Lê Hùng Ph không còn. Tôi yêu cầu được ly hôn với ông Lê Hùng Ph. Về con chung: Tôi và ông Lê Hùng Ph có 01 con chung là Lê Nguyễn Thiên A – sinh ngày 24/5/2015, nếu ly hôn tôi yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu ông Lê Hùng Ph cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay cháu Lê Nguyễn Thiên A đang do ông Lê Hùng Ph nuôi dưỡng nên tôi đề nghị ông Ph phải giao lại cháu Lê Nguyễn Thiên A cho tôi được nuôi dưỡng. Về tài sản chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Theo bản tự khai, các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa, bị đơn ông Lê Hùng Ph trình bày: Tôi và bà Nguyễn Tiểu Th kết hôn vào năm 2015 tại UBND xã N Í, thị xã N H, tỉnh Kh H. Trong thời gian chung sống với nhau, giữa vợ chồng không có mâu thuẩn gì lớn, nay bà Nguyễn Tiểu Th làm đơn yêu cầu ly hôn thì tôi không đồng ý ly hôn vì tình cảm vợ chồng vẫn còn và tôi muốn gia đình đoàn tụ để nuôi dạy con cái. Về con chung: Tôi và bà Th có 01 con chung là Lê Nguyễn Thiên A – sinh ngày 24/5/2015, nếu phải ly hôn tôi yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung vì hiện nay tôi đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Nguyễn Thiên A và không yêu cầu bà Nguyễn Tiểu Th cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Tiểu Th và ông Lê Hùng Ph tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã N Í, thị xã N H, tỉnh Kh H cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 20/01 ngày 30/3/2015, Do vậy, xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Qua các tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy, cuộc sống chung của vợ chồng bà Th, ông Ph không có hạnh phúc do tính tình không hòa hợp, thường xuyên kình cãi. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên hiện tại vợ chồng đã không sống chung với nhau nên xét thấy vợ chồng không còn tình cảm với nhau và không quan tâm, thương yêu, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau. Do vậy, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Tiểu Th là có căn cứ và phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2] Về con chung: Bà Nguyễn Tiểu Th và ông Lê Hùng Ph có 01 con chung là Lê Nguyễn Thiên A –sinh ngày 24/5/2015 hiện nay đang ở với ông Ph. Tại phiên tòa, bà Th và ông Ph đều có yêu cầu được nuôi cháu Lê Nguyễn Thiên A và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Lê Nguyễn Thiên A – sinh ngày 24/5/2015 còn quá nhỏ là con gái nên rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Do vậy, căn cứ vào khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu của bà Th và giao cháu Lê Nguyễn Thiên A – sinh ngày: 24/5/2015 cho bà Nguyễn Tiểu Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu A tròn 18 tuổi. Ông Lê Hùng Ph phải giao cháu Lê Nguyễn Thiên A –sinh ngày: 24/5/2015 cho bà Nguyễn Tiểu Th nuôi dưỡng sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Bà Nguyễn Tiểu Th không yêu cầu ông Lê Hùng Ph cấp dưỡng nuôi con nên không xét. Ông Lê Hùng Ph yêu cầu được nuôi con chung là cháu Lê Nguyễn Thiên A –sinh ngày 24/5/2015 vì hiện nay ông đang là người trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Lê Nguyễn Thiên A còn quá nhỏ dưới 36 tháng tuổi và cháu A là con gái rất cần sự chăm sóc của người mẹ nên không chấp nhận yêu cầu của ông Lê Hùng Ph về việc nuôi con chung. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu việc thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Ông Lê Hùng Ph được quyền đến thăm non chăm sóc con chung không ai được cản trở.

[3] Về tài sản chung: Bà Th, ông Ph không yêu cầu nên không giải quyết.

[4] Về án phí: Bà Nguyễn Tiểu Th phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1/ Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Nguyễn Tiểu Th.

1.1 Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Tiểu Th được ly hôn với ông Lê Hùng Ph.

1.2 Về con chung: Giao cháu Lê Nguyễn Thiên A –sinh ngày: 24/5/2015 cho bà Nguyễn Tiểu Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu A tròn 18 tuổi. Ông Lê Hùng Ph phải giao cháu Lê Nguyễn Thiên A –sinh ngày: 24/5/2015 cho bà Nguyễn Tiểu Th nuôi dưỡng sau khi án có hiệu lực pháp luật. Bà Nguyễn Tiểu Th không yêu cầu ông Lê Hùng Ph cấp dưỡng nuôi con. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Lê Hùng Ph được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

1.3 Về tài sản chung: bà Nguyễn Tiểu Th và ông Lê Hùng Ph không yêu cầu tòa án giải quyết.

2/ Về án phí: Bà Nguyễn Tiểu Th phải chịu 300.000đ án phí án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0003653 ngày 05 tháng 3 năm  2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa. Nên bà Nguyễn Tiểu Th đã nộp xong án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

3/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


55
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 30/2018/HNGĐ-ST ngày 19/04/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:30/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Ninh Hòa - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:19/04/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về