Bản án 30/2018/HNGĐ-ST ngày 03/04/2018 về hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 30/2018/HNGĐ-ST NGÀY 03/04/2018 VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 03 tháng 4 năm 2018, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, Toà án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 364/2017/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2017 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2018/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm: 1988; Địa chỉ: 591/2/7 Bình Thới, phường 10, quận 11, Thành Phố H.

- Bị đơn: Anh Hồ Văn S, sinh năm: 1991; Địa chỉ: ấp 6, xã Tân Lợi Thạnh, huyện G, tỉnh B.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 13/8/2017 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Ngọc H trình bày:

Chị và bị đơn là anh Hồ Văn S chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Lợi Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre vào năm 2011. Sau khi cưới vợ chồng chung sống tại Thành Phố Hồ Chí Minh hạnh phúc đượcđến năm 2015 thì xảy ra mâu thuẩn. Nguyên nhân là do vợ chồng bắt đầu phát sinh ra nhiều bất đồng trong cuộc sống, vợ chồng thường hay cải nhau. Cũng từ lúc đó, tình cảm vợ chồng bị rạn nứt dần nên  anh S bỏ về quê cha mẹ ruột sinh sống cho đến nay. Vợ chồng ly thân nhau từ đó, không có thời gian hàn gắn đoàn tụ. Trong quá trình ly thân cho đến nay, anh S cũng không quan tâm đến vợ con. Do tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa nên chị yêu cầu xin ly hôn với anh S.

Trong quá trình chung sống chị và anh S có 01 con chung là cháu Hồ Ngọc Hải, sinh ngày 03/02/2012. Hiện tại, cháu Hải đang sống chung với chị. Sau khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung và chị không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung chị H khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm đã thông báo và tổ chức các phiên hòa giải nhưng anh S đều vắng mặt không lý do.

Do không thể tiến hành hòa giải được, Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm đã đưa vụ án ra xét xử vào ngày 13 tháng 3 năm 2018, anh S cũng vắng mặt.

Tại phiên tòa sơ thẩm được mở lại vào ngày hôm nay nhưng anh S vắng mặt không lý do, chị H có mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng: Anh Hồ Văn S là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh S.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh S chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy Ban nhân dân xã Tân Lợi Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre vào năm 2011 nên quan hệ hôn nhân của anh chị được coi là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Theo chị H thì sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì xảy ra mâu thuẩn. Nguyên nhân là do vợ chồng bắt đầu phát sinh ra nhiều bất đồng trong cuộc sống, vợ chồng thường hay cải nhau. Cũng từ lúc đó, tình cảm vợ chồng bị rạn nứt dần nên anh S bỏ về quê cha mẹ ruột sinh sống và vợ chồng đã sống ly thân cho đến nay, không có thời gian hàn gắn đoàn tụ. Trong thời gian ly thân, anh S cũng không quan tâm đến vợ con. Do chị H không còn tình cảm vợ chồng với anh S nữa nên chị làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh S. Tòa án đã tiến hành thông báo tổ chức phiên hòa giải với mục đích là hòa giải cho anh chị đoàn tụ. Tuy nhiên, anh S đã bỏ mặc không tham gia. Mặt khác, trong thời gian ly thân anh S cũng không quan tâm chăm sóc chị H và con chung, không cùng cải thiện tình trạng hôn nhân hiện tại của anh chị để kéo dài đời sống chung của vợ chồng mà anh bỏ mặc cho chị H tự giải quyết.

Xét thấy tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H để giải quyết cho chị H được ly hôn với anh S.

- Về con chung: Chị H và anh S có 01 con chung là cháu Hồ Ngọc Hải, sinh ngày 03/02/2012. Hiện tại, cháu Hồ Ngọc Hải đang sống chung với chị. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi H và anh S sống ly thân cho đến nay chị H vẫn đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ, cháu Hải vẫn phát triển bình thường. Do đó, không nên làm xáo trộn về tâm lý của trẻ nên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết nên giao con chung cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp, để cháu được ổn định tâm sinh lý và việc học hành.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con, theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình thì người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, chị H không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con, xét thấy đây là sự tự nguyện của chị H, không trái với quy định pháp luật nên ghi nhận.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị H khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét nếu sau này các bên có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị H phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 55, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ khoản 2 Điều 227 Luật Tố tụng Dân sự; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về quy định mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chị Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với anh Hồ Văn S.

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc H và anh Hồ Văn S có 01 con chung là cháu Hồ Ngọc Hải, sinh ngày 03/02/2012. Giao con chung cho chị H tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Anh S không phải cấp dưỡng nuôi con (Do chị H không có yêu cầu).

Anh Hồ Văn S được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở anh S thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84, Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc H khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét nếu sau này các bên có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.

4. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

- Chị Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0011951 ngày 21 tháng 8 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm; chị H đã nộp đủ án phí.

Trong thời hạn 15 ngày kể: Đối với nguyên đơn có mặt tại tòa thì kể từ ngày tuyên án; Đối với bị đơn vắng mặt tại tòa thì kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy Ban nhân dân xã nơi cư trú của bị đơn có quyền kháng cáo đối với bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.


96
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 30/2018/HNGĐ-ST ngày 03/04/2018 về hôn nhân và gia đình

Số hiệu:30/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Giồng Trôm - Bến Tre
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 03/04/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về