Bản án 298/2019/HS-PT ngày 09/10/2019 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 298/2019/HS-PT NGÀY 09/10/2019 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 09 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 282/2019/TLPT-HS ngày 23/8/2019 đối với bị cáo Nguyễn Văn H, do có kháng cáo của bị cáo, người bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2019/HSST ngày 21/03/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cư M' Gar, tỉnh Đắk Lắk.

* Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn H. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1979 tại tỉnh Thái Nguyên; Nơi ĐKNKTT: Thôn N, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Nguyễn Văn L và bà Ngô Thị L1; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thanh N và có 02 con, con lớn nhất sinh năm: 2012, con nhỏ nhất sinh năm: 2014; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị cáo tại ngoại, hiện có mặt tại phiên tòa.

* Những người tham gia tố tụng khác có kháng cáo và liên quan đến kháng cáo:

- Bị hại: ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1976 Địa chỉ: Thôn N, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

- Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: Ông Phạm Công U (giấy ủy quyền ngày 13/3/2019); địa chỉ: Đường X, phường T, Quận M, thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại:

1. Luật sư Lê Xuân Anh P - Công ty luật TNHH MTV V - Đoàn luật sư tỉnh Đắk

Địa chỉ: Đường G, phường L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

2. Luật sư Lê Thanh K - Văn phòng luật sư T - Đoàn luật sư tỉnh Đắk Lắk.

Đa chỉ: Đường C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ 00 ngày 21/3/2018, Nguyễn Hữu T, Nguyễn Sỹ C, Phạm Văn D, Nguyễn Đình M, Phan Quốc B, Lê Công L3, Phan Xuân L4, Nguyễn Gia S, Nguyễn Duy Đ, Thái Hữu H, Nguyễn Văn H1 cùng nhau đi vào khu vực rừng giáp ranh tiểu khu 546 và 547 tại xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk thuộc quyền quản lý, bảo vệ của Lâm trường J trực thuộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp J (Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp J), với mục đích là lấy cây lan và chặt cây le về làm cán cuốc đồng thời quay phim, chụp hình hiện trạng rừng bị tàn phá tại đây để cung cấp chứng cứ cho cơ quan chức năng có thẩm quyền giải quyết. Trong lúc đi tuần tra bảo vệ rừng, anh Phan Bùi Q là nhân viên của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp J đi vào hướng cầu B theo đường liên huyện hướng từ xã E, huyện C đi về huyện Ea Súp thì gặp nhóm của anh T nên anh Q gọi điện thoại báo cho anh Nguyễn Văn H2 (phó giám đốc Lâm truờng J) biết là có nhóm của anh L4 khoảng trên 10 người đeo khẩu trang, mang dao vào rừng hiện đang ở cầu B quay phim, chụp hình. Lúc này, anh Nguyễn Văn H2 cùng với Nguyễn Kim M là nhân viên Công ty Lâm nghiệp J đi vào hướng cầu B, đồng thời anh H2 điện thoại cho một số cán bộ là nhân viên Lâm nghiệp J để tăng cường kiểm tra gồm Đỗ Ngọc H3, Nguyễn Công T, Nguyễn Thanh L, Lê Đình H4, Nguyễn Huy H5, Lê Quang H6. Trên đường đi thì gặp Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 47F3- 6991 đi thăm rẫy về thì H đi cùng. Trên đường đi vào cầu B thì nhóm của Nguyễn Văn H2 gặp nhóm của anh T đang đi từ cầu B ra. Thấy anh H2 đi đến thì anh L4 dừng xe, cầm điện thoại di động quay video về phía anh H2 nên giữa anh H2 và anh L4 xảy ra xô xát và mâu thuẫn với nhau. Sau đó, anh H2 nhìn thấy anh T cầm điện thoại quay về phía mình nên chạy đến ngăn cản, xông vào người anh T để lấy điện thoại của anh T vứt đi nhưng không được. Lúc này, H đi bộ đến, nhìn thấy anh H2 đuổi theo anh T nên cúi xuống đường nhặt 01 cục đá kích thước khoảng 4 X 6 cm và cầm bằng tay phải chạy thẳng về phía anh T. Khi chạy đến cách anh T khoảng 03 mét thì H ném cục đá trúng vào phần lưng của anh T, anh T quay người lại lùi về phía sau thì bị ngã, H lao đến dùng tay đấm 02 đến 03 cái vào mặt của anh T thì được anh H5 và anh Q chạy đến can ngăn, H nhìn thấy mũi của anh T bị chảy máu nên dừng lại và đi ra ngoài đường. Khi ra đến đường H nhìn thấy trên xe của anh L3 có 01 con dao dài 48cm nên H đi đến thu giữ con dao. Cùng lúc đó, anh Thái Hữu H đang đứng trên đường nhựa cũng bị 01 người bên nhóm của anh H2 dùng chân đá vào bụng. Sau đó anh T lên xe mô tô và bỏ chạy về hướng xã E thì anh H2, anh M cũng điều khiển xe mô tô đuổi theo còn H đi theo sau và mang theo 01 con dao thu giữ được của anh L3, số cán bộ Lâm trường còn lại chạy phía sau. Trên đường đi anh H2 và anh M gặp anh L4 nên chặn lại với mục đích là yêu cầu anh L4 xóa video, hình ảnh đã ghi lại được thì H đi đến cầm trên tay con dao nói trên đuổi theo để đánh anh L4, anh L4 bỏ chạy vào rừng. Trong lúc H đuổi đánh anh L4 thì anh H2 và anh M lên 4 xe mô tô đi về hướng xã E khoảng 200m thì gặp anh T và yêu cầu anh T xoá những video, hình ảnh vừa quay được trong điện thoại di động của anh T. Lúc này, H cũng vừa đi đến nơi, trong lúc đang nói chuyện với anh T, anh M cầm điện thoại của anh T vứt xuống mép đường gần nơi anh T đang đứng thì anh T nói "các ông thích đập thì tôi cho đập", H nghe thấy anh T nói vậy nên đi bộ đến nhặt chiếc điện thoại của anh T cầm bằng tay phải đập 01 cái vào mũ bảo hiểm của anh T đang đội trên đầu, rồi ném điện thoại xuống đất làm chiếc điện thoại của anh T bị hư hỏng. Sau đó, H cầm mũ bảo hiểm hiệu Nón Sơn màu nâu của mình đập vào đầu của anh T làm mũ bảo hiểm của anh T văng xuống đất bị vỡ, mũ bảo hiểm của H cũng văng ra xa, H cúi xuống nhặt mũ bảo hiểm của anh T lên tiếp tục đánh vào đầu T 2 đến 3 cái nữa rồi ném mũ bảo hiểm xuống đất và bỏ đi về. Sau đó, anh Nguyễn Hữu T và anh Thái Hữu H đã được mọi người đưa đến Trạm y tế xã E để sơ cứu, cùng ngày anh Nguyễn Hữu T và anh Thái Hữu H được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk để điều trị.

* Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số 2250/C54B, ngày 01/6/2018, của Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Anh Nguyễn Hữu T chấn thương gãy xương chính mũi gây hậu quả vẹo vách ngăn, chít hẹp cuốn mũi giữa bên phải, không xác định ảnh hưởng đến chức năng thở và ngửi, được tính 09%; Chấn thương mũi gây chít hẹp lỗ mũi một bên là 12%. Áp dụng phương pháp cộng lùi và làm tròn, xác định tại thời điểm giám định, anh Nguyễn Hữu T có tỷ lệ thương tật là 20%.

* Tại bản kết luận pháp y bổ sung số 3724/C09B ngày 11/9/2018 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Chấn thương gãy xương sống mũi của anh Nguyễn Hữu T do vật tày tác động trực tiếp vào vùng sống mũi với một lực khá mạnh gây ra; các tổn thương phần mềm như mô tả trong giấy chứng nhận thương tích số 01/CN ngày 19/4/2018 của Trạm y tế xã E và bản tóm tắt bệnh án điều trị nội trú số 318/TKBA - BVT ngày 27/4/2018 của bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk. Tại thời điểm giám định không để lại dấu vết tổn thương phần mềm, không đủ cơ sở khoa học kết luận cơ chế gây thương tích, không xác định tỷ lệ thương tật.

* Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2019/HSST ngày 21/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS 2015; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng.

Ngày 25/3/2019 bị cáo Nguyễn Văn H có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Ngày 01/4/2019 người bị hại kháng cáo toàn bộ nội dung bản án. Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét huỷ bản án sơ thẩm để làm rõ vai trò đồng phạm trong vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo;

Người bị hại giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm để làm rõ vai trò đồng phạm trong vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyên Văn H về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS đúng người đúng tội, đúng pháp luật. Xét mức hình phạt 02 năm tù đối với bị cáo H là tương xứng với tính chất mức độ do hành vi của bị cáo gây ra.

Tại tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, tại cấp phúc thẩm bị cáo có cung cấp thêm bố bị cáo được thưởng huân chương kháng chiến hạng 3, chú ruột của bị cáo bị nhiễm chất độc da cam. Song xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo H cho rằng bị cáo nhận tội thay cho Nguyễn Văn H2, thương tích của anh Nguyễn Hữu T là do anh H2 gây ra. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm cũng như tại cấp phúc thẩm bị cáo H và anh T không cung cấp được gì thêm chứng mới về hành vi của anh Nguyễn Văn H2. Do đó, ý kiến của bị cáo H và người bị hại anh Nguyễn Hữu T đưa ra không có căn cứ chấp nhận.

Đi với người bị hại ông Ngyễn Hữu T kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo H là không có căn cứ, vì bị cáo H có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Việc người bị hại cho rằng bỏ lọt tội phạm là không có căn cứ, theo “Biên bản xác nhận hình ảnh và giọng nói” lập ngày 14/9/2018 của Công an huyện Cư M’gar; “Bản trích nội dung tập tin Video” cần giám định ngày 01/11/2018; “Kết luận giám định” ngày 01/11/2018 của Bộ Công an – Viện khoa học hình sự. Thì không có việc bỏ lọt người phạm tội, cho nên kháng cáo của người bị hại vấn đề này không có căn cứ để xem xét.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo và người bị hại, giữ nguyên bản án hình sư thẩm số: 12/2019/HSST ngày 21/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk về phần hình phạt.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị, có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

* Ý kiến của luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người bị hại, ông Lê Thanh K và ông Lê Xuân Anh P trình bày:

Qua nghiên cứu các tài liệu chứng cứ thu thập lưu trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo H và người bị hại anh Nguyễn Hữu T tại phiên tòa hôm nay cũng cho rằng thương tích của anh Nguyễn Hữu T là do Nguyễn Văn H2 gây nên. Hiện nay về phía bị cáo H có một file ghi âm về việc bị cáo H và anh H2 thỏa thuận, bị cáo H nhận tội thay cho anh H2 chưa cung cấp cho cơ quan Điều tra, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng và hoãn phiên tòa hôm nay để xem xét chứng cứ mới, hoặc hủy bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2019/HSST ngày 21/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án để điều tra lại vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ ánđã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn H tại phiên toà phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

[1] Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Do ý thức coi thường sức khỏe của người khác, khoảng 10 giờ ngày 21/3/2018, anh Nguyễn Hữu T cùng một số người dân tại xã E đi vào khu vực rừng giáp ranh tiểu khu 546 và 547 ở xã E, huyện C thuộc quyền quản lý, bảo vệ của Lâm trường J để quay video, chụp hình hiện trạng rừng bị tàn phá để cung cấp chứng cứ cho cơ quan chức năng có thẩm quyền giải quyết. Khi nhóm anh T đi về hướng xã E cách cầu B tại khu vực rừng giáp ranh hai tiểu khu nói trên khoảng 500m thì gặp anh Nguyễn Văn H2 cùng một số cán bộ là nhân viên của Lâm trường J. Sau đó, nhóm anh Nguyễn Hữu T dùng điện thoại quay Video về phía anh H2 nên hai bên xảy ra xô xát giằng co điện thoại với nhau. Lúc đó, Nguyễn Văn H cùng đi với nhóm của anh H2, chứng kiến sự việc giữa hai người nên H đã dùng tay đấm vào mặt anh T gây thương tích tỷ lệ 20%.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H xin được hưởng án treo, tại phiên tòa hôm nay lại chối tội với lý do thương tích của anh Nguyễn Hữu T do Nguyễn Văn H2 gây nên. Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn H 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp lý, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo H 02 năm tù là tương xứng với tính chất mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp được thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Bố và chú ruột của bị cáo là người có công với cách mạng, tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo quanh co chối tội không thừa nhận hành vi của bị cáo đánh anh T. Hơn nữa giữa bị cáo và anh T không có mâu thuẫn gì mà bị cáo lại gây thương tích cho anh T. Do đó kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo không có căn cứ để chấp nhận, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm: 12/2019/HSST ngày 21/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar về phần hình phạt.

[3] Xét kháng cáo của anh Nguyễn Hữu T:

[3.1] Người bị hại anh Nguyễn Hữu T cho rằng: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo H 02 năm tù là quá nhẹ, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt 02 năm tù đối với bị cáo H là Tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội cũng đủ giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Bị cáo phạm tội lần đầu, tại cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Hoàn cảnh của bị cáo quá khó khăn bố mẹ đã già yếu, con còn nhỏ, gia đình của bị cáo là gia đình có công với cách mạng. Sau khi phạm tội bị cáo cũng đã bồi thường được một phần nào về chi phí điều trị cho người bị hại. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo Nguyễn Văn H lại quanh có chối tội, song xét thấy không làm bất lợi cho bị cáo. Do đó kháng cáo về yêu cầu tăng hình phạt của anh T đối với bị cáo H không có căn cứ chấp nhận.

[3.2] Người bị hại anh Nguyễn Hữu T, người đại diện theo ủy quyền của anh T và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho anh T đều cho rằng trong vụ án còn bỏ lọt tội phạm đối với Nguyễn Văn H2, Nguyễn Kim M, Thái Hữu H và Phan Bùi Q đề nghị hủy bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2019/HSST ngày 21/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar để làm rõ vai trò đồng phạm của một số đối tượng trên. Theo “Biên bản xác nhận hình ảnh và giọng nói” lập ngày 14/9/2018 của Công an huyện Cư M’gar; “Bản trích nội dung tập tin Video cần giám định” ngày 01/11/2018 của Viện khoa học hình sự chỉ ghi lại giọng nói “Nam” không biệt được ai; “Kết luận giám định” ngày 01/11/2018 của Bộ Công an – Viện khoa học hình sự, đã kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt dán và chỉnh sửa hình ảnh, âm thanh trong hai tập tin Video cần giám định; nội dung âm thanh 02 tập tin. Do đó kháng cáo của người bị hại không có căn cứ để chấp nhận.

[4] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo H cho rằng bị cáo nhận tội thay cho anh Nguyễn Văn H2, thương tích của anh Nguyễn Hữu T là do anh H2 gây ra. Bị cáo còn giữ một có một file ghi âm nội dung bị cáo H nhận tội thay cho anh Nguyễn Văn H2. Hội đồng xét xử xét thấy, trong giai đoạn tố tụng từ Cơ quan điều tra cho đến, phiên tòa sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, sau khi hoãn phiên tòa phúc thẩm lần một. Cả một quá trình thời gian dài bị cáo H không có ý gì và cũng không cung cấp file ghi âm cho cơ quan có thẩm quyền xem xét về hành vi của anh H2. Tại “Đơn trình bày”; “Bản tự khai”, “Biên bản hỏi cung”, “Biên bản lấy lời khai” và “Biên bản đối chất”, giữa bị cáo H với anh T, bị cáo đều thừa nhận “Tôi đấm vào mặt anh T 02 đến 03 cái, thấy mặt anh T chảy máu thôi không đánh nữa...”. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận lời khai của bị cáo H tại phiên tòa hôm nay.

[5] Kiến nghị với Cơ quan cảnh sát Điều tra công an huyện Cư M’gar, xác minh điều tra làm rõ hành vi của anh Nguyễn Văn H2, nếu đủ căn cứ xử lý theo quy định của pháp luật.

[6] Về án phí hình sự phúc thẩm:

- Do không được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

- Người bị hại anh Nguyễn Hữu T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H và người bị hại anh Nguyễn Hữu T.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2019/HSST ngày 21/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar về phần hình phạt.

[2] Tuyên xử:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS 2015; Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 năm tù về tội: “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


77
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 298/2019/HS-PT ngày 09/10/2019 về tội cố ý gây thương tích

Số hiệu:298/2019/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 09/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về