Bản án 296/2019/HSPT ngày 23/05/2019 về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 296/2019/HSPT NGÀY 23/05/2019 VỀ TỘI CHỨA CHẤP VIỆC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 23 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 196/2019/TLPT-HS ngày 05 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo Bùi Thanh B1 đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2019/HSST ngày 23/01/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

* Bị cáo có kháng cáo: Bùi Thanh B1, sinh năm 1998; Nơi ĐKNTTT: Xóm 6, xã Gia Thanh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Chỗ ở: Quán KARAOKE RUBY, tổ dân phố Cồn Tàu Nam, thị trấn Quất Lâm, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Con ông: Bùi Văn C, sinh năm: 1970 và bà: Đỗ Thị L1, sinh năm 1976; Vợ: chưa. Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 16-8-2018, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định.

* Người làm chứng: Chị Hà Thị H1, sinh năm 1987; Địa chỉ: Tổ dân phố Cồn Tàu Nam, thị trấn Quất Lâm, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hi 01 giờ 15’ ngày 16/8/2018, Tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Nam Định phối hợp với Công an thị trấn Quất Lâm, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tiến hành kiểm tra hành chính quán hát KARAOKE RUBY tại thị trấn Quất Lâm, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Tại thời điểm kiểm tra Tổ công tác phát hiện trong quán hát có 6/6 phòng đều có khách đang hát trong đó tại phòng hát số 9999 tầng 1 và phòng hát số 6666 tầng 2 các khách hát có biểu hiện đang sử dụng trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với chủ quán KARAOKE RUBY và đồng thời kiểm tra hành chính các khách hát phòng 6666 và 9999, cụ thể như sau:

Tại phòng hát VIP 6666 có 08 khách gồm: Đinh Văn S, Nguyễn Văn T1, Đinh Văn H2, Nguyễn Văn T2, Mai Thị Thúy V, Nguyễn Thảo N1, Hoàng Thị N2, Tẩn Tả M.

Quá trình kiểm tra hành chính phòng VIP 6666, Tổ công tác phát hiện thu giữ vật chứng:

Thu giữ tại mặt bàn phòng hát gồm: 01 (một) chiếc đĩa sứ màu trắng hình bầu dục, trên bề mặt chiếc đĩa có dính chất bột tinh thể màu trắng và 03 (ba) túi nylon màu trắng gồm 02 túi nylon bên trong đều dính chất bột màu trắng và 01 (một) túi nylon đựng chất bột màu trắng; 01 (một) thẻ khách hàng dùng điện đã cũ có dính chất bột màu trắng (tất cả được cho vào phong bì niêm phong ký hiệu Ml) và 01 (một) ống hút được cuốn bằng tờ tiền pholyme mệnh giá l0.000đ.

Thu giữ tại dưới nền phòng hát: 02 (hai) viên nén màu xanh được niêm phong, ký hiệu M2.

Thu giữ tại túi quần bên trái của Đinh Văn S đang mặc 02 (hai) viên nén màu xanh (S tự giao nộp cho tổ công tác và khai nhận đó là 02 viên ma túy thuốc lắc), được niêm phong ký hiệu M3.

Tại bản kết luận giám định số 736/GĐKTHS ngày 18/8/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận:

Mẫu chất bột màu trắng trong 01 (một) túi nylon màu trắng và mẫu bột màu trắng dính trên đĩa sứ màu trắng hình bầu dục, trong 02 (hai) túi nylon màu trắng và trên chiếc thẻ dùng điện cũ được niêm phong ký hiệu MI gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Ketamine. Tổng khối lượng mẫu M1: 0,032gam.

Mẫu gồm 02 (hai) viên nén hình tròn màu xanh được niêm phong ký hiệu M2 và 02 (hai) viên nén hình tròn màu xanh được niêm phong ký hiệu M3 gửi giám định đều là ma túy: Loại ma túy: MDMA. Tổng khối lượng mẫu M2: 0,801 gam; Tổng trọng lượng mẫu M3: 0,686 gam.

Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Nam Định đã tiến hành lấy mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn T1, Đinh Văn S, Mai Thị Thúy V, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Thảo N1, Đinh Văn H2, Tẩn Tả M, Hoàng Thị N2 để giám định.

Tại bản kết luận giám định số 737/GĐKTHS ngày 18/8/2018 của Phòng KTHS Công an tỉnh Nam Định kết luận: Trong 08 (tám) mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu Kl, K2, K3, K4, K5, K6, K7, K8 gửi giám định thì có 05 (năm) mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu K1 (Nguyễn Vãn T2), K2 (Đinh Văn S), K3 (Mai Thị Thúy V), K6 (Đinh Văn H2) và K8 (Hoàng Thị N2) đều có tìm thấy thành phần ma túy. Loại ma túy: MDMA.

Còn 03 mẫu nước tiểu của Nguyễn Vãn T1, Nguyễn Thị Thảo N1, Tẩy Tả M không tìm thấy các chất ma túy thường gặp.

Tại phòng VIP số 9999 có 07 khách hát gồm: Cao Văn L2, Hoàng Văn T3, Trần Văn K, Nguyễn Văn Đ, Vi Thị Q, Nguyễn Thị Kim D, Nguyễn Bích T4.

Quá trình kiểm tra hành chính phòng VIP 9999, tổ công tác phát hiện thu giữ vật chứng gồm: 01 (một) chiếc đĩa sứ màu trắng hình bầu dục có dính ít nước đục và 01 (một) túi nylon màu trắng bên trong dính chất lỏng màu trắng đục được niêm phong, ký hiệu N; 01 ống hút được quấn bằng tờ tiền polyme mệnh giá 20.000đ; 03 (ba) vỏ đầu lọc thuốc lá.

Tại bản kết luận giám định số 735/GĐKTHS ngày 18/8/2018, của Phòng KTHS Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất lỏng màu đục bám dính trên bề mặt đĩa sứ màu trắng hình bầu dục và trong 01 (một) túi nylon màu trắng được niêm phong ký hiệu N gửi giám định đều có thành phần ma túy. Loại ma túy: MDMA.

Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Nam Định đã tiến hành lấy mẫu nước tiểu của Cao Văn L2, Hoàng Văn T3, Nguyễn Bích T4, Trần Văn K, Vi Thị Q, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị Kim D để giám định.

Tại bản kết luận giám định số 738/GĐKTHS ngày 18/8/2018 của Phòng KTHS Công an tỉnh Nam Định kết luận: Trong 07 (bảy) mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu Al, A2, A3, A4, A5, A6 và A7 gửi giám định thì có 06 (sáu) mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu A1 (Cao Văn L2), A2 (Hoàng Văn T3), A3 (Nguyễn Bích T4), A4 (Trần Văn K), A5 (Vi Thị Q), A6 (Nguyễn Văn Đ) đều có thành phần ma túy. Loại ma túy: MDMA.

Chủ quán KARAOKE RUBY, lễ tân có mặt gồm: Hà Thị H1, Bùi Thanh B1, Hoàng Đình B2 - sinh năm 1998; Nơi ĐKHKTT: xóm 2, xã Quỳnh Thạch, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Chỗ ở: Quán KARAOKE RUBY, thị trấn Quất Lâm, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

Căn cứ tài liệu điều tra thu thập được, ngày 19/8/2018, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Nam Định đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can và Lệnh bắt tạm giam đối với Bùi Thanh B1 và Đinh Văn S.

Tại cơ quan điều tra Bùi Thanh B1 và Đinh Văn S đã khai nhận hành vi phạm tội như sau:

* Tại Phòng hát VIP 6666: Khoảng 16h30’ ngày 15/8/2018, Đinh Văn H2 gọi điện cho Đinh Văn S rủ Sơn đi hát KARAOKE và sử dụng ma túy. S đồng ý rồi cả hai đi taxi đến quán hát KARAOKE RUBY thuộc thị trấn Quất Lâm, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. S gọi điện thoại cho bạn gái là Mai Thị Thúy V để rủ sang quán RUBY hát và sử dụng ma túy, khi đó V đang ở cùng Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Thảo N1 nên S bảo V rủ cả bạn đi cùng thì V đồng ý, S và H2 đi trước. Khi đến quán hát RUBY thuộc thị trấn Quất Lâm, Sơn gặp Bùi Thanh B1 là lễ tân quán hát - để thuê phòng hát VIP 6666. Khi vào phòng hát H2 đưa cho S 2.000.000đ để đi mua ma túy về cùng sử dụng. Sau đó, V, T2, N1 đến phòng hát VIP 6666, V đưa l.500.000đ cho S để góp tiền mua ma túy sử dụng. S ra ngoài gọi điện thoại cho một người đàn ông (không biết họ, tên, địa chỉ) hỏi mua 3.400.000đ được 04 (bốn) viên thuốc lắc và nửa chỉ Ketamine. Khi mua được ma túy, S chia cho bản thân S và H2, T2 mỗi người 01 (một) viên thuốc lắc, S đưa cho V và N1 mỗi người nửa viên thuốc lắc để từng người cho vào nước cô ca để sử dụng rồi nhảy và hát. Khi sử dụng hết thuốc lắc, S ra quầy lễ tân bảo với nhân viên lễ tân Bùi Thanh B1 gọi cho 02 (hai) nhân viên nữ đến phục vụ và đồng thời S gọi điện thoại cho người đàn ông đã mua ma túy trước đó để mua tiếp 02 viên thuốc lắc với giá 700.000đ mục đích để cho hai nhân viên nữ đến hát cùng sử dụng. Sau khi mua được 02 viên thuốc lắc thì S bỏ 02 viên thuốc lắc vào túi quần bên trái S đang mặc. Sau đó, S gọi điện cho Nguyễn Văn T1 đến hát và bảo T1 xào ma túy tổng hợp (xào Ketamine) để cả bọn sử dụng thì T1 đồng ý. S ra quầy lễ tân gặp Bùi Thanh B1, Sơn bảo B1 cho mượn một chiếc đĩa sứ và cuốn cho S một ống hút để sử dụng ma túy. Bùi Thanh B1 biết rõ S và nhóm bạn của S mượn đĩa sứ và cuốn ống hút bằng tờ tiền để sử dụng ma tuý nhưng B1 vẫn lấy đĩa sứ màu trắng hình bầu dục và cuốn tờ tiền l0.000đ của B1 thành ống hút đưa cho S. Sau đó, S mang đĩa sứ và ống hút vào phòng thì có nhân viên nữ tên Hoàng Thị N2 vào, S đưa đĩa sứ và túi Ketamine cho T1, rồi T1 bỏ Ketamine lên chiếc đĩa sứ. Tiếp đó thì nhân viên nữ Tẩn Tả M vào phòng hát, T1 tiếp tục dùng thẻ nhựa cứng để đảo Ketamine và chia thành từng đường Ketamine trên đĩa rồi T1 cầm đĩa và ống hút đến chỗ từng người mời mọi người hút Ketamine, mỗi người đều hít một đường Ketamine (bản thân T1 cũng tự hít một đường Ketamine) mọi người tiếp tục cùng bay lắc. Khoảng 01 giờ 15' ngày 16/8/2018, Tổ công tác vào phòng hát VIP 6666 kiểm tra hành chính phát hiện các đối tượng trong phòng hát VIP 6666 đang bay lắc trong ánh đèn mờ ảo và tiếng nhạc sàn âm lượng lớn nên đã lập biên bản thu giữ các vật chứng trên. Thu giữ trong túi quần S đang mặc 02 (hai) viên nén màu xanh, S khai nhận là 02 viên thuốc lắc (ma túy tổng hợp), tổ công tác đưa các đối tượng về trụ sở để làm việc. Đối với 02 viên nén màu xanh Cơ quan CSĐT thu giữ tại dưới nền phòng hát (kết luận giám định là 0,801 gam MDMA) Đinh Văn S và những người có mặt trong phòng hát khai không phải của họ và không biết là của ai.

* Tại phòng hát VIP 9999:

Chiu ngày 15/8/2018, K, T3, C1, Đ tổ chức liên hoan ăn thịt chó, trong quá trình ăn thì T3 gọi điện cho L2 ra ăn cùng. Sau khi ăn xong, T3 là người trả tiền bữa ăn hết 675.000đ, K rủ mọi người đi hát thì mọi người đồng ý cùng đến quán hát KARAOKE RUBY thuộc thị trấn Quất Lâm, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định và được lễ tân xếp vào phòng VIP 9999. Khi vào phòng thì L2 nói với mọi người mua ít kẹo (thuốc lắc) về chơi thì mọi người đồng ý. L2 đưa cho C1 3.000.000đ để C1 đi mua thuốc lắc về cùng sử dụng. C1 cầm tiền và đi mua thuốc lắc về đưa L2 08 (tám) viên thuốc lắc. L2 cầm chia cho Đ 01 viên, K 01 viên, T3 01 viên, L2 1/2 viên, 03 nhân viên nữ mỗi người 1/2 viên tất cả cùng sử dụng, còn lại 02 viên. Khoảng 20 phút sau T3 bảo 03 nhân viên nữ nhà T3 về. Sau khi 03 nhân viên nữ về T3 xuống quầy lễ tân bảo gọi 03 nhân viên nữ khác. Lúc sau, 03 nhân viên nữ D, T5, T4 đến phòng hát. Khi vào phòng hát T3 bảo L2 đưa nốt 02 viên còn lại để T3 hòa vào cốc coca cho 03 nhân viên nữ mới uống. L2 đưa T3 túi đựng 02 viên thuốc lắc. Khi cầm túi thuốc lắc mà L2 đưa cho T3 thì T3 dùng đít chai bia nghiền nát 02 viên thuốc lắc được đựng trong túi nylon rồi đổ thuốc lắc vào một cốc nước coca dùng chiếc kẹp gắp đá quấy đều lên đưa cho ba nhân viên nữ là D, T5, T4 cùng uống hết cốc nước coca có chứa thuốc lắc đó. Cả bọn bay lắc được một lát thì do C1 mệt nên đã bảo với mọi người đi về trước. Trong quá trình đang bay lắc thì T3 bảo K lấy tờ tiền lẻ đưa cho nhân viên để quấn ống hút ke, K đưa cho D tờ 20.000đ để D cuốn rồi T3 ra gặp lễ tân Bùi Thanh B1 hỏi mượn một chiếc đĩa sứ mục đích để xào ke, sử dụng ma túy tổng hợp, B1 biết phòng VIP 9999 cũng sử dụng ma túy. B1 đã lấy đĩa sứ hơ nóng rồi cầm chiếc đĩa sứ hình bầu dục đặt lên mặt chiếc loa trong phòng hát 9999. Lúc này, trong phòng 9999 đang mở nhạc với âm lượng lớn. Sau đó, Bình ra ngoài luôn. T3 ở bên ngoài gọi điện cho C1 để bảo C1 mua ke về cho cả bọn sử dụng nhưng C1 không nghe máy. T3 đang ngồi ở ghế sofa cạnh quầy lễ tân thì Tổ công tác vào quán kiểm tra hành chính, phát hiện sự việc các đối tượng trong phòng hát VIP 9999 đang bay lắc trong ánh đèn mờ ảo và tiếng nhạc sàn âm lượng lớn nên đã lập biên bản thu giữ các vật chứng trên và đưa các đối tượng về trụ sở để làm việc.

Trong suốt quá trình điều tra vụ án Bùi Thanh B1 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Trong đó B1 khai cho S và T3 mỗi người mượn 01 đĩa sứ và sử dụng tờ tiền VNĐ mệnh giá 10.000 đồng của mình để cuốn thành ống hút cho bị cáo S để S, T3 và các khách hát sử dụng ma tuý và lý do B1 biết họ sẽ sử dụng ma tuý là vì trước đó mấy ngày B1 cũng đã cho S mượn đĩa sứ, cuốn ống hút để giúp S và nhóm bạn S sử dụng ma tuý trong phòng hát. Khi vụ án được kết thúc điều tra và Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Nam Định giao bản kết luận điều tra cho Bùi Thanh B1 nhưng Bùi Thanh B1 không nhận bản kết luận điều tra vụ án vì cho rằng bản thân không phạm tội. Tại buổi hỏi cung ngày 22/11/2018 của VKSND tỉnh Nam Định, bị cáo Bùi Thanh B1 thay đổi lời khai không nhận tội và khai nhận B1 là người làm thuê, tối ngày 15/8/2018 - chủ quán là chị Hà Thị H1 đi vắng có giao cho B1 trông coi, quản lý quán, nếu có khách thì sắp xếp, bố trí cho họ vào hát Karaoke. Khi S, T3 đến thuê các phòng hát VIP 6666 và 9999 thì B1 đã phục vụ như mọi lần. B1 khai cho S và T3 mượn đĩa sứ, có sử dụng tờ tiền VNĐ mệnh giá 10.000 đồng của mình để cuốn thành ống hút cho bị cáo S nhưng B1 không biết S, T3 sử dụng đĩa sứ và ống hút để làm gì, B1 phủ nhận việc B1 biết số khách trong 02 phòng hát VIP 6666 và VIP 9999 có sử dụng ma túy. Nhưng căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đặc biệt là lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Thanh B1; lời khai của Đinh Văn S; lời khai của Cao Văn L2; lời khai của Hoàng Văn T3. Từ đó đã có đủ cơ sở để kết luận: Bùi Thanh B1 là nhân viên nhà nghỉ được Hà Thị H1 chủ quán giao nhiệm vụ quản lý hoạt động của quán đã đồng ý để cho các đối tượng vào hát và sử dụng ma túy tại 02 phòng VIP 6666 và 9999.

Các tình tiết có liên quan: Tổ công tác đã yêu cầu chủ quán hát KARAOKE RUBY là Hà Thị H1 và hai nhân viên lễ tân Bùi Thanh B1 và Hoàng Đình B2 về trụ sở để làm việc. Tại trụ sở các đối tượng đều khai nhận nội dung là: Tối ngày 15/8/2018, H1 về nhà bố đẻ ăn giỗ. Quán hát KARAOKE RUBY được giao lại cho hai nhân viên là Bùi Thanh B1 và Hoàng Đình B2 quản lý trong đó Bùi Thanh B1 chịu trách nhiệm chính. Hà Thị H1 là chủ quán KARAOKE RUBY tuy không biết việc khách vào quán của mình để sử dụng ma túy, nhưng việc quán hoạt động quá giờ quy định và để xảy ra việc khách hát lợi dụng quán để sử dụng chất ma túy nên chủ quán phải có một phần trách nhiệm. Do vậy, Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh Nam Định ra quyết định xử phạt hành chính đối với chủ quán KARAOKE RUBY về hành vi để người khác lợi dụng địa điểm sử dụng trái phép chất ma túy và hành vi kinh doanh quá giờ quy định chuyển về hồ sơ về Công an huyện Giao Thủy xử lý theo thẩm quyền theo quy định.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2019/HSST ngày 23/01/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định đã căn cứ điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Bùi Thanh B1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy trái phép”, thời hạn tù tính từ ngày 21/8/2018.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với bị cáo Đinh Văn S, về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo cho người tham gia tố tụng.

Ngày 31/01/2019, bị cáo Bùi Thanh B1 có đơn kháng cáo với nội dung kêu oan.

Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố phát biểu quan điểm cho rằng: Các bị cáo Bùi Thanh B1 là nhân viên phục vụ quán kraoke được chủ quán giao cho quản lý các phòng hát khi chủ quán đi vắng. B1 đã cho các con nghiện sử dụng ma túy ngay tại phòng hát của quán, nên Tòa án cấp sơ thẩm kết án Bùi Thanh B1 phạm tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ đúng người, đúng tội không oan. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Bùi Thanh B1 07 năm 06 tháng tù là không nặng nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo giữ nguyên hình phạt đối với hai bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận để xem xét.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo chối tội và cho rằng mình bị mớm cung. Nhưng căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận:

Ti ngày 15-8-2018 chủ quán Karaoke RUBY là chị H1 đi vắng đã giao quán cho Bùi Thanh B1 là nhân viên phục vụ trông coi phòng hát của quán. Bị cáo biết những người khách đang hát kraoke tại quán sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo không can ngăn mà còn cho mượn đĩa và dùng tờ tiền cuốn thành ống hút để họ sử dụng ma túy. Bị cáo cho rằng cho khách mượn đĩa và cuốn ống hút bị cáo không biết để làm gì, nhưng căn cứ vào lời khai của S, T3 và của bị cáo tại Cơ quan điều tra, thì thể hiện bị cáo biết rõ việc khách sử dụng ma túy ngay trong phòng hát của quán. Việc bị cáo cho rằng bị cáo không phải là chủ quán, không có quyền cho thuê, cho mượn địa điểm để sử dụng ma túy, nên bị cáo không phạm tội thì thấy: Bị cáo Bùi Thanh B1 là nhân viên phục vụ được giao trông coi phòng hát khi phát hiện khách hát sử dụng ma túy, bị cáo không can ngăn và không báo cho chủ quán biết. Không những thế bị cáo còn cho mượn đĩa và cuốn ống hút giúp họ để sử dụng ma túy. Như vậy bị cáo có hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy chứ không oan như ý kiến của bị cáo nêu ra. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm kết án Bùi Thanh B1 phạm tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ đúng người, đúng tội không oan.

Xét thấy, bị cáo B1 có hành vi chứa chấp nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt Bùi Thanh B1 7 năm 6 tháng tù ở mức khởi điểm của khung hình phạt là không nặng, nên không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mà giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Về thời gian bị tạm giữ, tạm giam: Trong hồ sơ không thể hiện rõ bị cáo bị tạm giữ từ ngày nào nhưng theo bị cáo khai thì bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16-8-2018, lời khai này phù hợp với các biên bản lấy lời khai nên có cơ sở khẳng định bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16-8-2018. Tòa án cấp sơ thẩm xác định thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 21-8-2018 là không chính xác nên sửa lại cho chính xác.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Thanh B1, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2019/HS-ST ngày 23-01-2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

1, Tuyên bố bị cáo Bùi Thanh B1 phạm tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt Bùi Thanh B1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16-8-2018.

2, Bùi Thanh B1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3, Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án này có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.


160
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 296/2019/HSPT ngày 23/05/2019 về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

Số hiệu:296/2019/HSPT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 23/05/2019
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về