Bản án 29/2021/HNGĐ-ST ngày 07/04/2021 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ - THÀNH PHỐ CẦN THƠ

BẢN ÁN 29/2021/HNGĐ-ST NGÀY 07/04/2021 VỀ LY HÔN

Ngày 07 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 267/2020/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2020 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, nghĩa vụ chung. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:53/2021/QĐXX-ST ngày 26 tháng 02 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bé T, sinh năm 1989; Trú tại: Ấp 8, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

Bị đơn: Anh Ngô Sỹ T, sinh năm 1980; Trú tại: Ấp 8, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

 NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm chị Nguyễn Thị Bé T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào khoảng năm 2006, do quen biết, tìm hiểu, chị Nguyễn Thị Bé T và anh Ngô Sỹ T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn theo quy định. Thời gian đầu chung sống tình cảm vợ chồng hạnh phúc nhưng sau này phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến nhiều lần cự cãi và anh T đánh chị. Từ đó, tình cảm vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng nên vợ chồng sống ly thân từ tháng 01/2020 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được nên chị T yêu cầu xin được ly hôn với anh T.

Về con chung: Có 02 con chung: cháu Ngô Thành C, sinh ngày 31/10/2007 và cháu Ngô Sỹ B, sinh ngày 24/12/2013. Hiện cháu C đang sống chung với anh T, cháu B đang chung sống với chị T. Chị T yêu cầu được giành quyền nuôi cháu B và giao cháu C cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu các bên cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nghĩa vụ chung: Không có.

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn anh Ngô Sỹ T vắng mặt không rõ lý do.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Bé T và anh Ngô Sỹ T.

Về nuôi con chung: Giao cháu B cho chị T và giao cháu C cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng:

Đối với cháu B: Ghi nhận chị T không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi cháu B.

Đối với cháu C: Tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có phát sinh tranh chấp.

Về chia tài sản chung; Nghĩa vụ chung: Tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có phát sinh tranh chấp.

Về án phí Hôn nhân và gia đình: Chị T phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thẩm tra tại phiên tòa, qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện và yêu cầu của nguyên đơn thì tranh chấp giữa các bên được xác định là tranh chấp về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, nghĩa vụ chung. Tòa án thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về việc tham gia tố tụng: Bị đơn anh Ngô Sỹ T vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của chị T và anh T được xác lập trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Do đó, có cơ sở xác định hôn nhân giữa chị T và anh T là hợp pháp. Chị T xác định thời gian đầu chung sống tình cảm vợ chồng hạnh phúc nhưng thời gian sau này thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẩn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến nhiều lần cự cãi dẫn đến đánh nhau nên vợ chồng sống ly thân. Thời gian sống ly thân, vợ chồng không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Chị T nộp đơn khởi kiện xin ly hôn, Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cũng tiến hành hòa giải nhiều lần để vợ chồng đoàn tụ nhưng anh T đều vắng mặt không rõ lý do. Tại phiên tòa, chị T cương quyết xin ly hôn vì xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với anh T, anh T tiếp tục vắng mặt không rõ lý do. Ngoài ra tại biên bản xác minh ngày 05/02/2021 xác định: Nguyên nhân phát sinh mâu thuẩn là do vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau, từ đó vợ chồng đã sống ly thân khoảng 01 năm nay. Điều đó chứng tỏ, mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chị T xin ly hôn với anh T là có cơ sở.

[2.2] Về nuôi con chung: Có 02 con chung: Cháu Ngô Thành C, sinh ngày 31/10/2007 và cháu Ngô Sỹ B, sinh ngày 24/12/2013. Chị T yêu cầu được giành quyền nuôi cháu B và giao cháu C cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

Xét thấy: Từ lúc vợ chồng sống ly thân, cháu B chung sống với chị T, cháu C đang chung sống với anh T. Cháu B có nguyện vọng được chung sống với chị T, cháu C có nguyện vọng chung sống với anh T. Đối với cháu B còn nhỏ rất cần sự chăm sóc của chị T. Chị T xác định, từ lúc vợ chồng sống ly thân, chị T và anh T đều đã nuôi các cháu đầy đủ về vật chất lẫn tinh thần. Để phát triển bình thường về mặt tâm lý cũng như tiện bề chăm sóc cho các cháu được thuận lợi nên cần thiết ổn định các cháu như ban đầu. Căn cứ vào khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu B cho chị T và giao cháu C cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng các cháu đến tuổi trưởng thành Về nghĩa vụ cấp dưỡng:

Đối với cháu B: Chị T không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Đây là sự tự nguyện của đương sự không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên ghi nhận.

Đối với cháu C: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, anh T đều vắng mặt và không có yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi cháu C. Do đó, cần tách nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có tranh chấp.

[2.2] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Chị T xác định không có. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh T đều vắng mặt không rõ lý do, Tòa án không tiến hành ghi nhận được ý kiến của anh T về tài sản chung, nợ chung. Do đó, cần tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có phát sinh tranh chấp.

[3] Án phí: Nguyên đơn chị T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227;Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Bé T và anh Ngô Sỹ T.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Ngô Sỹ B, sinh ngày 24/12/2013 cho chị T và giao cháu Ngô Thành C, sinh ngày 31/10/2007 cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng các cháu đến tuổi trưởng thành.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con:

Đối với cháu B: Ghi nhận chị T không yêu cầu Thành cấp dưỡng nuôi cháu B.

Đối với cháu C: Tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có phát sinh tranh chấp.

Dành quyền thăm nom con chung cho chị T và anh T, không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên, chị T và anh T không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Nếu có thì chị T và anh T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của nhau.

Vì lợi ích mọi mặt của con khi cần thiết có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

3. Về chia tài sản chung nghĩa vụ chung: Tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có phát sinh tranh chấp.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Bé T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 013430 ngày 06 tháng 11 năm 2020 thành tiền án phí. Công nhận chị T đã nộp xong.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

6. Án tuyên công khai, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm.


50
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án 29/2021/HNGĐ-ST ngày 07/04/2021 về ly hôn

Số hiệu:29/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cờ Đỏ - Cần Thơ
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:07/04/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về