Bản án 29/2020/HNGĐ-PT ngày 30/12/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 29/2020/HNGĐ-PT NGÀY 30/12/2020 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 30 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 36/2020/TLPT- HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2020 về việc: "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn".

Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 22/2020/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng có kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 216/2020/QĐ-PT ngày 13 tháng 10 năm 2020 và Quyết định hoãn pH tòa số 238/2020/QĐ-PT ngày 05 tháng 11 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thế M; nơi ĐKHKTT: Thôn Đông Nham 2, xã Quốc Tuấn, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Số 02 Đại lộ Hữu Nghị, Khu công nghiệp Việt Nam – Singapore, xã Tịnh Phong, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Chị Phạm Thị H; nơi ĐKHKTT: Thôn Đông Nham 2, xã Quốc Tuấn, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Thôn Xuân Đài, xã Trường Thọ, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Người kháng cáo: Chị Phạm Thị H là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai của nguyên đơn là anh Nguyễn Thế M trình bày:

Anh Nguyễn Thế M và chị Phạm Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Quốc Tuấn, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng vào ngày 03 tháng 5 năm 2007. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại gia đình anh M ở thôn Đông Nham 2, xã Quốc Tuấn, hyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị H nhiều lần ngoại tình, anh M và gia đình đã khuyên bảo nhưng không có kết quả. Đến tháng 7 năm 2019, gia đình anh M phát hiện chị H có quan hệ bất chính với nhiều người đàn ông khác nên không chấp nhận chị H là dâu, con trong nhà và đuổi chị H ra khỏi nhà. Chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thôn Xuân Đài, xã Trường Thọ, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng từ đó đến nay, vợ chồng sống ly thân và không quan tâm đến nhau. Nay anh M xác định tình cảm vợ chồng không còn, quan hệ vợ chồng không có khả năng hàn gắn nên anh xin ly hôn chị Phạm Thị H.

Về con chung: Anh M khai anh chị có 02 con chung là Nguyễn Đức Trọng, sinh ngày 17 tháng 11 năm 2007 và Nguyễn Trọng Tiến, sinh ngày 15 tháng 10 năm 2012. Ly hôn anh M nhận nuôi con Nguyễn Đức Trọng, nhường chị H nuôi con Nguyễn Trọng Tiến, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh M khai anh và chị H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là chị Phạm Thị H trình bày:

Chị H thống nhất với anh M về thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn. Quá trình chung sống theo chị H vợ chồng mâu thuẫn từ năm 2019 do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính cách không phù hợp, bất đồng giữa chị H và gia đình anh M. Chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thôn Xuân Đài, xã Trường Thọ, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng từ tháng 8 năm 2019. Vợ chồng ly thân nhau từ đó đến nay. Trong thời gian vợ chồng ly thân, anh M không đến tìm và bản thân chị không về với anh M. Chị H xét thấy vợ chồng không còn tình cảm, anh M có đơn xin ly hôn, chị H đồng ý.

Về con chung: Chị H thống nhất vợ chồng có hai con chung như anh M trình bày. Chị H đề nghị được nuôi con Nguyễn Trọng Tiến, nhường anh M nuôi con Nguyễn Đức Trọng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị H khai chị và anh M có tài sản chung gồm: 01 nhà cấp 4 công trình phụ đầy đủ có diện tích sử dụng khoảng 95m2, 01 nhà quán đổ mái bằng có diện tích sử dụng khoảng 100m2, sân gạch đỏ có diện tích khoảng 120m2, cổng xây bổ trụ lợp mái đỏ, cánh cổng lốc, tường bao gạch chỉ cài song lốc đều do anh chị xây dựng trên diện tích đất của bố mẹ đẻ anh M tại thôn Đông Nham 2, xã Quốc Tuấn, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Theo chị H giá trị các tài sản trên khoảng 800.000.000đ (tám trăm triệu đồng), chị H đề nghị tòa án chia cho chị và anh M mỗi người một nửa số tài sản trên và chị H đề nghị được nhận tiền mặt.

Tại Bản án số 22/2020/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện An Lão đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thế M.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Thế M được ly hôn chị Phạm Thị H.

2. Về con chung: Giao con Nguyễn Đức Trọng, sinh ngày 17 tháng 11 năm 2007 cho anh Nguyễn Thế M nuôi dưỡng, giao con Nguyễn Trọng Tiến, sinh ngày 15 tháng 10 năm 2012 cho chị Phạm Thị H nuôi dưỡng cho đến khi các con trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Anh Nguyễn Thế M khai anh và chị Phạm Thị H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị Phạm Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng nhưng không có chứng cứ chứng minh tài sản chung và không nộp tiền tạm ứng án phí chia tài sản chung theo quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ngoài ra Bản án còn tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 20 tháng 8 năm 2020, chị Phạm Thị H kháng cáo Bản án sơ thẩm với lý do: Chị không đồng ý ly hôn với anh Nguyễn Thế M, khi nào anh M chia tài sản chung với chị thì chị mới đồng ý ly hôn.

Tại pH tòa phúc thẩm, bị đơn vẫn giữ nguyên yên cầu kháng cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia pH tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đúng các quyền và ngh a vụ, tham gia pH tòa theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Thế M và chị Phạm Thị H kết hôn hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn. Anh chị sống ly thân từ khoảng tháng 8/2019 đến nay. Xét tình trạng hôn nhân của anh M và chị H là thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó việc Tòa án cấp sơ thẩm cho anh chị ly hôn là có căn cứ. Về con chung: Tòa án cấp sơ thẩm giao cho anh Nguyễn Thế M nuôi dưỡng con Nguyễn Đức Trọng, giao cho chị Phạm Thị H nuôi con Nguyễn Trọng Tiến là phù hợp. Về tài sản chung: Tòa án cấp sơ thẩm chưa giải quyết việc phân chia tài sản chung nên cấp phúc thẩm không thể xem xét giải quyết được. Đề nghị HĐXX căn cứ căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của chị H, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án và sau khi tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:

- Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Chị Phạm Thị H có nơi cư trú tại thôn Đông Nham 2, xã Quốc Tuấn, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng nên tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn giữa anh M và chị H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, chị H có đơn kháng cáo, do đó Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại pH tòa anh Nguyễn Thế M vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn anh Nguyễn Thế M.

- Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của chị Phạm Thị H về việc chị không đồng ý ly hôn với anh M, chị chỉ đồng ý ly hôn khi anh M thỏa thuận với chị về việc phân chia tài sản, Hội đồng xét xử xét thấy:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Thế M và chị Phạm Thị H kết hôn trên cở sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Quốc Tuấn, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng vào ngày 03 tháng 5 năm 2007. Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn. Từ khoảng tháng 8 năm 2019 chị H bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở và sống ly thân với anh M từ đó đến nay. Trong thời gian sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Tại pH tòa chị cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, song chị chưa muốn ly hôn vì vợ chồng chưa thỏa thuận về tài sản. Xét quan hệ hôn nhân chỉ tồn tại khi xuất phát từ tình cảm của cả vợ và chồng, hiện nay, cả anh M và chị H không còn tình cảm với nhau, tình trạng hôn nhân của anh chị là thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó việc Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho anh Nguyễn Thế M được ly hôn chị Phạm Thị H là có căn cứ.

[4] Về tài sản chung: Anh Nguyễn Thế M không yêu cầu tòa án giải quyết phân chia tài sản chung. Tại cấp sơ thẩm, chị H đã có đơn yêu cầu chia tài sản chung, Tòa án cấp sơ thẩm đã ra thông báo về việc yêu cầu giao nộp tài liệu, chứng cứ chứng minh tài sản chung giữa chị và anh Nguyễn Thế M và thông báo nộp tiền tạm ứng án phí. Chị Phạm Thị H đã nhận được các thông báo nêu trên nhưng chị không giao nộp tài liệu, chứng cứ, không nộp tiền tạm ứng án phí chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo yêu cầu của Tòa án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không giải quyết việc phân chia tài sản chung giữa anh M và chị H là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Chị H có quyền làm đơn yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn để tòa án giải quyết bằng vụ án khác.

[5] Từ nhận định trên, căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của chị Phạm Thị H, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên chị H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo của chị Phạm Thị H, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 22/2020/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng:

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Thế M được ly hôn chị Phạm Thị H.

2. Về con chung: Giao con Nguyễn Đức Trọng, sinh ngày 17 tháng 11 năm 2007 cho anh Nguyễn Thế M nuôi dưỡng, giao con Nguyễn Trọng Tiến, sinh ngày 15 tháng 10 năm 2012 cho chị Phạm Thị H nuôi dưỡng cho đến khi các con trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, ngh a vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Anh Nguyễn Thế M khai anh và chị Phạm Thị H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; chị Phạm Thị H yêu cầu tòa án giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng nhưng không có chứng cứ chứng minh tài sản chung và không nộp tiền tạm ứng án phí chia tài sản chung theo quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí:

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Thế M phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh Nguyễn Thế M đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0011358 ngày 04 tháng 5 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Anh Nguyễn Thế M đã nộp đủ án phí.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị Phạm Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0011501 ngày 27 tháng 8 năm 2020 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, chị H đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

5. Về quyền thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

82
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 29/2020/HNGĐ-PT ngày 30/12/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:29/2020/HNGĐ-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:30/12/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về