Bản án 29/2019/HNGĐ-ST ngày 30/05/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 29/2019/HNGĐ-ST NGÀY 30/05/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 30/5/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 28/2019/HNGĐ-ST ngày 16/01/2019 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 235/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/5/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thúy K – sinh năm 1984

Địa chỉ: Tổ 9, Phường N, thành phố T, tỉnh K. Có mặt

Bị đơn: Ông Vũ H – sinh năm 1980

Địa chỉ: Tổ 9, Phường N, thành phố T, tỉnh K. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị Thúy K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Vũ H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Cam Thành Bắc, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa năm 2005. Trong quá trình chung sống với nhau xảy ra nhiều mâu thuẩn giữa hai vợ chồng, tình cảm vợ chồng đã rạn nứt không thể hàn gắn, không khí gia đình luôn nặng nề, căng thẳng, vợ chồng không còn chung sống với nhau, bà không còn tình cảm với ông H. Vậy bà K yêu cầu được ly hôn với ông H để được ổn định cuộc sống.

Về con chung: Bà K và ông H có 02 con chung là cháu Vũ Hoàng N – sinh ngày 05/12/2010 và Vũ Chí K – sinh 30/10/2013. Sau khi ly hôn bà K yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung đến tuổi thành niên. Bà K không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: không có Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn ông Vũ H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà K tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Cam Thành Bắc, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa năm 2005. Trong quá trình chung sống vợ chồng cũng có những mâu thuẫn vì lý do tôi hay nóng tính, tôi nghĩ đó là những mẫu thuẫn nhỏ mà gia đình nào cũng có. Thời gian từ 2005 đến 2014 vợ chồng tôi sống hòa thuận nhưng từ năm 2015 tôi nghỉ làm việc tại công ty Khatoco cho đến nay thì vợ chồng hay xích mích nhiều hơn quy ra cũng vì cuộc sống thiếu về vật chất kinh tế. Bà K yêu cầu ly hôn thì tôi không đồng ý vì tôi còn yêu thương vợ con, hai con còn nhỏ nên cần sự chăm sóc của cả cha và mẹ, những mâu thuẫn nhỏ phát sinh có thể giải quyết được.

Về con chung: Có 02 con chung là cháu Vũ Hoàng N – sinh ngày 05/12/2010 và Vũ Chí K – sinh 30/10/2013. Nếu Tòa giải quyết chấp nhận ly hôn thì tôi yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 2 con chung cho đến tuổi thành niên, tôi không yêu cầu bà K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quan điểm của Viện kiểm sát: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của Trần Thị Thúy K. Về con chung: Giao con cháu Vũ Chí K – sinh ngày 30/10/2013 cho bà Trần Thị Thúy K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên; Giao con cháu Vũ Hoàng N – sinh ngày 05/12/2010 cho ông Vũ H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên. Ông H và bà K không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các bên đương sự được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp theo yêu cầu của bà Trần Thị Thúy K được xác định là tranh chấp hôn nhân gia đình về việc ly hôn, Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đúng quan hệ pháp luật và vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thúy K và ông Vũ H tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã Cam Thành Bắc, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn số 125, ngày 21 tháng 1 1 năm 2005. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Theo lời trình bày của bà K và ông H đều thừa nhận trong quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn, hiện nay vợ chồng không còn chung sống với nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tiến hành hòa giải để hai bên được đoàn tụ nhưng không thành, ông H không đồng ý ly hôn vì cho rằng cần có thời gian để suy nghĩ, tuy nhiên không tìm được cách để thuyết phục bà K. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng dành nhiều thời gian để thuyết phục, hằn gắn tình cảm giữa hai bên nhưng bà K vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà K và ông H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của bà K là có căn cứ, chính đáng nên có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Thúy K.

Về con chung: Bà K và ông H có 02 con chung là cháu Vũ Hoàng N – sinh ngày 05/12/2010 và Vũ Chí K – sinh 30/10/2013. Bà K và ông H đều có nguyện vọng sau ly hôn được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con đến đến tuổi trưởng thành, không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy cả cha và mẹ đều có quyền, nghĩa vụ ngang nhau, cùng nhau chăm sóc nuôi dưỡng con, cháu Vũ Hoàng N có nguyện vọng được ở với mẹ nên có cơ sở để giao cháu Vũ Hoàng N – sinh ngày 05/12/2010 cho bà Trần Thị Thúy K và giao cháu Vũ Chí K – sinh 30/10/2013 cho ông Vũ H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với bà K và ông H.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Bà Trần Thị Thúy K phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Trần Thị Thúy K được ly hôn với ông Vũ H.

2. Về con chung: Giao cháu Vũ Hoàng N – sinh ngày 05/12/2010 cho bà Trần Thị Thúy K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên; giao cháu Vũ Chí K – sinh 30/10/2013 cho ông Vũ H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông H và bà K.

Bà Trần Thị Thúy K và ông Vũ H được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết bà K và ông H đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như yêu cầu thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Bà Trần Thị Thúy K phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0010583 ngày 16/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Bà K đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


74
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 29/2019/HNGĐ-ST ngày 30/05/2019 về ly hôn

Số hiệu:29/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:30/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về