Bản án 29/2019/HNGĐ-ST ngày 23/09/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 29/2019/HNGĐ-ST NGÀY 23/09/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 23 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 76/2019/TLST-HNGĐ, ngày 07 tháng 5 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 19 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2019/QĐST-HNGĐ, ngày 05 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Anh T, sinh năm 1994. Địa chỉ: Tỉnh lộ 7.., ấp C, xã A, huyện V, tỉnh N; Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Trần Hoàng Đ, sinh năm 1993. Địa chỉ: Tổ 9, ấp 3, xã T, huyện B, tỉnh D. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 05 tháng 5 năm 2019, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Anh T có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt, trình bày:

Bà Nguyễn Thị Anh T và ông Trần Hoàng Đ tự nguyện quen biết, tìm hiểu nhau, được cha mẹ hai bên đồng ý, có tổ chức lễ cưới vào năm 2014 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân, huyện B, tỉnh D vào ngày 11/4/2014.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, sau khi sinh con là Trần Nguyễn Khánh N thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do ông Đ thường xuyên cờ bạc, không lo làm ăn để chăm lo cho kinh tế của gia đình, một mình bà T phải đi làm để nuôi con, ông Đ còn thường xuyên gây gỗ và có lời lẽ xúc phạm bà T, từ mâu thuẫn giữa hai vợ chồng ngày càng trầm trọng nên đến tháng 10 năm 2018 bà T không còn sống chung với ông Đ mà bỏ về sống chung với cha mẹ ruột. Mặc dù gia đình hai bên đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông Đ vẫn không chịu thay đổi, không phụ giúp bà T chăm sóc con chung.

Đến nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống, bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Hoàng Đ.

Khi ly hôn, bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung tên Trần Nguyễn Khánh N, sinh ngày 03/12/2014; bà T không yêu cầu ông Đ phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Trần Hoàng Đ nhưng ông thường xuyên vắng nhà nên không thể tiến hành tống đạt được, Tòa án tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng ông Đ không đến Tòa án để làm việc. Tại biên bản xác minh địa chỉ nơi cư trú của bị đơn ngày 09/5/2019 (BL18), Công an xã T, huyện B cho biết: Ông Trần Hoàng Đ có đăng ký thường trú tại tổ 9, ấp 3, xã T, huyện B, tỉnh D ông Đ còn sinh sống tại địa phương nhưng thường xuyên vắng mặt, ông Đ đi đâu không thông báo nên địa phương không biết rõ ông Đ đi đâu, từ thời gian nào. Căn cứ khoản 5 Điều 177 và Điều 179 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án đã tiếp tục thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Trần Hoàng Đ bằng hình thức giao cho người nhà (Bà Nguyễn Thị Mỹ L - Mẹ của ông Đ) có cùng hộ khẩu (được bà L cho biết ông Đ thỉnh thoảng vẫn về nhà thăm cha mẹ), bà L có thông báo cho ông Đ biết việc bà Nguyễn Thị Anh T nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn (BL 30) nhưng ông Đ không có ý kiến, Tòa án niêm yết công khai văn bản tố tụng tại trụ sở Tòa án, trụ sở UBND xã T và nơi cư trú của bị đơn ông Trần Hoàng Đ (Tổ 9, ấp 3, xã T, huyện B, tỉnh D). Đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự nhưng bị đơn ông Trần Hoàng Đ không có văn bản chấp nhận hay phản đối đối với việc khởi kiện của nguyên đơn, không có mặt để tham gia tố tụng tại Tòa án và không thông báo lý do vắng mặt.

Qua xác minh trình trạng hôn nhân của bà T và ông Đ được chính quyền địa phương xác định do ông Đ không lo làm ăn, không phụ giúp vợ chăm lo việc gia đình và có nhiều người đến nhà ông Đ để đòi nợ nên ông Đ không về nhà sinh sống, cha của ông Đ đã đứng ra trả nợ cho ông nhưng ông Đ vẫn không thay đổi mà tiếp tục vay mượn nợ thêm nhiều người không có khả năng thanh toán nên cha ông Đ không thanh toán giúp ông Đ nữa, do đó ông Đ đã bỏ đi khỏi địa phương. Từ ngày ông Đ bỏ đi, bà T đã đưa con về nhà mẹ ruột sinh sống cho đến nay.

Ý kiến của Vị đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật, riêng bị đơn ông Trần Hoàng Đ đã được Tòa án tống đạt các Thông báo tố tụng hợp lệ thông qua hình thức niêm yết công khai tại nơi cư trú, UBND xã T trụ sở Tòa án hoặc giao cho người thân có đủ năng lực hành vi dân sự cùng nơi cư trú nhưng bị đơn cố tình vắng mặt không có lý do. Do vậy, việc Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn ông Trần Hoàng Đ là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Vụ án được xét xử trong thời hạn luật định. Viện Kiểm sát không kiến nghị, khắc phục gì thêm.

Về quan điểm của Viện Kiểm sát đối với vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Anh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bị đơn ông Trần Hoàng Đ hiện đang cư trú tại huyện B nên Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 36 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Bị đơn ông Trần Hoàng Đ thường xuyên không có mặt nơi cư trú nên Tòa án không thể tống đạt trực tiếp văn bản tố tụng cho bị đơn, Tòa án tống đạt giấy triệu tập cho người thân của ông Đ nhưng ông cũng không đến làm việc. Căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 177 và Điều 179 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án đã lập biên bản về việc không tống đạt được văn bản tố tụng cho bị đơn và tiến hành thủ tục niêm yết công khai văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn ông Trần Hoàng Đ không đến Tòa án tham gia tố tụng, cũng không gửi văn bản nêu ý kiến đồng ý hay phản đối yêu cầu khởi kiện xin ly hôn, tranh chấp nuôi con của nguyên đơn, cũng không có yêu cầu phản tố trong vụ án. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông Trần Hoàng Đ là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[3] Bà Nguyễn Thị Anh T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 277 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt bà Nguyễn Thị Anh T.

[4] Bà Nguyễn Thị Anh T với ông Trần Hoàng Đ sống chung có đăng ký kết hôn nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp và một hoặc cả hai người đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5] Theo bà Nguyễn Thị Anh T khai, vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn trong thời gian chung sống nguyên nhân do ông Đ thường xuyên cờ bạc, không lo làm ăn, không lo cho kinh tế của gia đình, vay nợ nhiều người không có khả năng trả, một mình bà T phải đi làm để nuôi con, ông Đ còn thường xuyên có lời lẽ xúc phạm bà T, do mâu thuẫn ngày càng gay gắt, trầm trọng nên đến tháng 10 năm 2018 bà T đã bỏ về với cha mẹ ruột. Bà T yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Đ để được tự do làm ăn, sinh sống, nuôi con.

[6] Ông Đ không đến Tòa án tham gia tố tụng cũng không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện hoặc yêu cầu phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên xét thấy bị đơn ông Đ không có thiện chí mong muốn hòa giải để trở về đoàn tụ gia đình và việc ông không đến Tòa án là từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Qua xác minh tại địa phương và người thân của ông Đ thì ông Đ thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú nhưng đã được thông báo về việc bà T nộp đơn khởi kiện xin ly hôn bằng hình thức niêm yết công khai nhưng cố tình không đến Tòa án để tham gia hòa giải.

[7] Qua thẩm tra các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cả hai đều không ai mong muốn trở về đoàn tụ để tiếp tục sống chung nghĩ nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Anh T về việc ly hôn với ông Trần Hoàng Đ, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[8] Về con chung: Xét thấy, cháu Trần Nguyễn Khánh N, sinh ngày 03/12/2014 tại thời điểm xét xử sơ thẩm chưa đủ 07 tuổi và hiện đang sống cùng bà T. Căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án quyết định giao cháu N cho bà T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi là phù hợp quy định pháp luật.

[9] Về người cấp dưỡng và mức cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông Đ phải cấp dưỡng nuôi cháu N, xét thấy đây là sự tự nguyện của bà T nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

 [11] Lời đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ và đúng pháp luật nên chấp nhận.

[12] Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Anh T phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, khoản 1 Điều 59, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Anh T đối với ông Trần Hoàng Đ.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Anh T được ly hôn với ông Trần Hoàng Đ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 03/2014, quyển số 01/2014 do UBND xã T, huyện B, tỉnh D cấp ngày 11/4/2014 cho ông Trần Hoàng Đ và bà Nguyễn Thị Anh T không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung và mức cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Anh T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Trần Nguyễn Khánh N, sinh ngày 03/12/2014. Ông Trần Hoàng Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Trần Hoàng Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai có quyền cản trở. Trường hợp ông Đ lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà Nguyễn Thị Anh T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông Đ. Vì quyền và lợi ích về mọi mặt của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi một hoặc cả hai đương sự có yêu cầu.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Anh T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) do bà T đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0030539 ngày 06/5/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện B.

5. Nguyên đơn, Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.


18
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 29/2019/HNGĐ-ST ngày 23/09/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:29/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bắc Tân Uyên - Bình Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:23/09/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về