Bản án 29/2019/HNGĐ-ST ngày 23/04/2019 về không công nhận quan hệ vợ chồng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 29/2019/HNGĐ-ST NGÀY 23/04/2019 VỀ KHÔNG CÔNG NHẬN QUAN HỆ VỢ CHỒNG

Ngày 23 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 88/2019/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thấm số: 45/2019/QĐXX-ST ngày 21 tháng 3 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 19/2019/QĐ-HPT ngày 12/4/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Bá N, sinh ngày 05/5/1976.

Nơi ĐKHKTT: xómV, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

Nghề nghiệp: Làm ruộng. (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Bà Hoàng Thị T, sinh ngày 10/12/1973.

Nơi ĐKHKTT: xóm V, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

Nghề nghiệp: Làm ruộng.(Vắng mặt lần 2 không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện của ông Nguyễn Bá N và trình bày tại bản tự khai của nguyên đơn thì vụ án có nội dung:

Ông Nguyễn Bá N và bà Hoàng Thị T cưới nhau vào tháng 06/1996. Trước khi cưới ông bà có quá trình yêu đương, tìm hiểu, hôn nhân trên cơ sở tình yêu và sự tự nguyện đến với nhau. Sau đó tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán, được sự đồng ý của hai gia đình chứng kiến của xóm làng và bạn bè. Nhưng ông Nguyễn Bá N và bà Hoàng Thị T không làm thủ tục đăng ký kết hôn, mà sống với nhau như vợ chồng kể từ tháng 6/1996. Ông N, bà T sống hạnh phúc đến tháng 9/2009 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do tính tình hai bên không phù hợp nhau, không tìm được tiếng nói, lối đi chung trong hôn nhân, đã có những lời nói , hành động không đúng mực, xử sự thiếu tôn trọng nhau gây khó chịu cho nhau.

Mâu thuẫn xẩy ra thường xuyên liên tục làm mất tình cảm giữa hai người dẫn đến hôn nhân đổ vỡ. Mâu thuẫn hai bên tự hòa giải với nhau, được gia đình hai bên vun vén nhưng không đưa lại kết quả gì, tình cảm hai bên không được cải thiện. Do mâu thuẫn đã làm cho không khí trong cuộc sống chung của hai người lúc nào cũng nặng nề gây khó chịu cho nhau, nên ông N, bà T đã sống ly thân, cắt đứt các quan hệ từ cuối năm 2009 cho đến nay. Quá trình sống ly thân ông N, bà T không liên lạc, níu kéo hôn nhân. Ông Nguyễn Bá N xác định hôn nhân của họ đã đổ vỡ, không thể hàn gắn. Do không làm thủ tục đăng ký kết hôn, ông N đề nghị Tòa án xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Bá N và bà Hoàng Thị T.

2. Về quan hệ con chung: Ông Nguyễn Bá N, bà Phan Thị T có với nhau con 02 con chung, anh Nguyễn Hồng Q; Giới tính; nam - Sinh ngày 25/7/1997 và cháu Nguyễn Thị Hồng V; Giới tính; nữ - Sinh ngày 12/2/2015. Từ ngày sống ly thân con đã trưởng thành và chưa trưởng thành đều do ông N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, bà T không có trách nhiệm gì đối với con chung. Trường hợp Tòa án chấm dứt hôn nhân ông N đề nghị giao con chung chưa thành niên cháu Nguyễn Thị Hồng V; Giới tính; nữ - Sinh ngày 12/2/2015 cho ông trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi chung. Đối với anh Nguyễn Hồng Q; Giới tính; nam - Sinh ngày 25/7/1997 con chung hiện nay đã trưởng thành, không bị nhược điểm về thể chất và tinh thần ông N không yêu cầu tòa xem xét giải quyết.

3. Về quan hệ tài sản: Ông Nguyễn Bá N không yêu cầu tòa giải quyết. Đối với bị đơn bà Hoàng Thị T, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà không hợp tác để giải quyết, cố tình vắng mặt Tòa án không thu thập được lời khai, ý kiến, trình bày của bà Hoàng Thị T để lưu tại hồ sơ. Song qua các tài liệu, chứng cứ do ông N cung cấp, xác minh tình trạng hôn nhân, con chưa thành niên tại địa phương thì về quan hệ hôn nhân, quan hệ con chung cơ bản đúng như ông Nguyễn Bá N trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

-Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện qui định tại Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên tòa lần thứ nhất đối với các đương sự. Tại phiên tòa lần thứ nhất nguyên đơn ông Nguyễn Bá N có mặt, bị đơn bà Hoàng Thị T vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa trong đó ấn định về thời gian tiếp tục xét xử vụ án.Tòa án tiếp tục tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập phiên tòa lần thứ hai cho ông N, bà T. Tại phiên tòa lần thứ hai nguyên đơn vắng mặt có lý do, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn bà Hoàng Thị T tiếp tục vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn.

- Về nội dung:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Bá N và bà Hoàng Thị T tổ chức cưới hỏi vào tháng 05/1990. Theo qui định của pháp luật hôn nhân và gia đình thì ông N, bà T có đầy đủ điều kiện để làm thủ tục đăng ký kết hôn, nhưng do không tôn trọng về pháp luật nên ông bà không thực hiện quyền và nghĩa của mình về việc làm thủ tục đăng ký kết hôn theo qui định. Tuy ông N, bà T có thời gian sống chung với nhau như vợ chồng với thời gian khá lâu, ông bà đã sinh được hai con chung, hiện nay một con chung đã trưởng thành. Do ông N, bà T không làm thủ tục đăng ký kết hôn nên pháp luật không công nhận hôn nhân giữa ông N và bà T là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi ông Nguyễn Bá N có đơn yêu cầu tòa án chấm dứt hôn nhân đối với bà bà Hoàng Thị T, Tòa án không tổ chức hòa giải về quan hệ hôn nhân của ông bà theo qui định. Tuy nhiên Tòa án đã vận động ông N rút đơn, sau đó đến cơ quan chức năng làm thủ tục đăng ký kết hôn để ông bà tiếp sống với nhau, duy trì hôn nhân. Nhưng ông N xác định mâu thuẫn giữa ông và bà T đã xẩy ra hết sức trầm trọng, hai người mất hết tình cảm, tình thương đối với nhau, cắt đứt các quan hệ, đã sống ly thân gần mười năm, ông N mong muốn được Tòa án chấm dứt hôn nhân giữa ông và bà Hoàng Thị T. Từ đó cho thấy hôn nhân giữa ông N và bà T đã hoàn toàn đổ vỡ, không thể hàn gắn dù vận động đến đâu thì ông N cùng không rút đơn khởi kiện đối với bà T. Do ông Nguyễn Bá N và bà Hoàng Thị T không phải là vợ chồng, nên cần xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Bá N và bà Hoàng Thị T.

[2] Về quan hệ con chung: Ông Nguyễn Bá N và bà Hoàng Thị T có với nhau 02 con chung, anh Nguyễn Hồng Q; Giới tính; nam - Sinh ngày 25/7/1997 đã đủ tuổi trưởng thành, không có nhược điểm về thể chất và tâm thần, nên tòa án không xem xét việc giao nuôi con chung đã thành niên. Đối với cháu Nguyễn Thị Hồng V; Giới tính; nữ - Sinh ngày 12/2/2015 chưa thành niên, từ ngày ông N, bà T sống ly thân cháu được ông N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Mặc dù không có sự hổ trợ của bà T về việc nuôi cháu V, nhưng ông N đã nuôi dạy con tốt phát triển về mọi mặt, cháu V có đơn trình bày nguyện vọng được sinh sống trực tiếp với ông N. Do đó ông N đề nghị giao con chưa thành niên cho ông trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là đúng pháp luật, đảm bảo quyền lợi của con chung, cần chấp nhận yeu cầu giao nuôi con của ông Nguyễn Bá N.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Bá N không yêu cầu bà Hoàng Thị T cấp dưỡng nuôi con chung chưa thành niên, nên cần tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho bà Hoàng Thị T cho đến lúc có yêu cầu.

[3] Về quan hệ tài sản: Ông Nguyễn Bá N không yêu cầu giải quyết, nên miễn xét.

[4] Về án phí: Buộc ông Nguyễn Bá N phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 9; Điều 14; Điều 53; Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình.

Xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Bá N và bà Hoàng Thị T.

2. Về quan hệ con chung: Giao con chung chưa thành niên cháu Nguyễn Thị Hồng V; Giới tính; nữ - Sinh ngày 12/2/2015 cho ông Nguyễn Bá N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến lúc con chung đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho bà Hoàng Thị T cho đến lúc có yêu cầu.

3.Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 27 của nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

- Buộc: Ông Nguyễn Bá N phải nộp 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được tính trừ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí ly hôn ông đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003551 ngày 28/02/2019 tại Chi cục Thị hành án Yên Thành. Ông Nguyễn Bá N đã nộp đủ án phí.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án tại Trụ sở UBND xã T và nơi cứ trú cuối cùng của nguyên đơn, bị đơn.


43
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 29/2019/HNGĐ-ST ngày 23/04/2019 về không công nhận quan hệ vợ chồng

Số hiệu:29/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Thành - Nghệ An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 23/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về