Bản án 28/2021/HS-ST ngày 02/02/2021 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 28/2021/HS-ST NGÀY 02/02/2021 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 02 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 08/2021/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2021/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:

La Thùy N, sinh năm 1986 tại Bến Tre; nơi đăng ký thường trú: xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: Phường C, quận D, Tp. Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: La Văn H, sinh năm 1962 và bà: Huỳnh Bích N, sinh năm 1958; chồng, con: không có; tiền án: không; tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: 15/9/2020. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 15/9/2020, La Thùy N đang ngồi nhậu với các đối tượng: Phạm Đăng K, Trần Anh D, Lê Duy N, Nguyễn Thành H, Đặng Thị Kim V và Nguyễn Trúc K tại phòng số 3 nhà số 24/11 đường X, Phường C, quận D do N thuê ở thì bị Công an Phường 2, quận Tân Bình kiểm tra hành chính. N tự nguyện vào bếp lấy 01 gói giấy chứa 04 viên nén màu hồng và 01 gói nylon chứa mảnh vụn màu cam là ma túy N cất giấu nhằm mục đích sử dụng. Qua giám định, 04 viên nén màu hồng là ma túy ở thể rắn, loại MDMA, có khối lượng 1,2411 gam; mảnh vụn màu cam là ma túy ở thể rắn, loại MDMA, có khối lượng 0,8301 gam.

Tại cơ quan điều tra, La Thùy N khai nhận: Vào khoảng tháng 5/2020, khi đi chơi tại quán bar N ở quận E, N được một người bạn không rõ lai lịch cho 01 gói giấy chứa 04 viên nén màu hồng và 01 gói nylon chứa mảnh vụn màu cam và nói đây là ma túy để N sử dụng. N mang về phòng trọ cất giấu trong phòng bếp để sử dụng nhưng chưa sử dụng đến. Ngày 11/9/2020, N đi chơi quán bar ở Quận I cùng bạn bè. Tại đây, N có uống bia rượu, khi uống xong thì phát hiện trong đó có ma túy, không rõ ai bỏ vào. Đến trưa ngày 15/9/2020, bạn của N là Phạm Đăng K, Trần Anh D, Lê Duy N, Nguyễn Thành H, Đặng Thị Kim V rủ N đi nhậu ở quận E. Sau đó, cả nhóm về nhà trọ của N nhậu tiếp. N có kêu bạn là Nguyễn Trúc K mở nhạc gây ồn ào. Đến 21 giờ cùng ngày thì bị Công an Phường 2, quận Tân Bình kiểm tra hành chính, N đã tự nguyện giao nộp ma túy như nêu trên. Các bạn của N không biết N có cất giấu ma túy tại phòng trọ. Kết quả xét nghiệm N dương tính với chất ma túy. Khám xét phòng trọ nơi N ở, kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Làm việc với các đối tượng Phạm Đăng K, Trần Anh D, Lê Duy N, Nguyễn Thành H, Đặng Thị Kim V và Nguyễn Trúc K đều khai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 15/9/2020, cả nhóm cùng ngồi nhậu với N tại một quán lề đường ở quận E, sau đó cả nhóm về nhà trọ của N rủ K cùng nhậu tiếp. Đến 21 giờ cùng ngày thì Công an Phường 2, quận Tân Bình kiểm tra hành chính như trên; không ai biết N có cất giấu ma túy trong phòng trọ. Kết quả xét nghiệm N và K dương tính với chất ma túy. N khai sử dụng ma túy vào ngày 13/9/2020 ở Vũng Tàu với một người bạn không rõ lai lịch, K khai sử dụng ma túy cách này 15/9/2020 khoảng 1 tuần khi đi chơi quán bar ở Quận I. Do đó, không có cơ sở xử lý các đối tượng này với vai trò đồng phạm, đã bàn giao Công an Phường 2, quận Tân Bình xử lý theo thẩm quyền.

Đối với đối tượng đưa ma túy cho N, không xác định được lai lịch nên không có cơ sở điều tra làm rõ.

Vật chứng vụ án:

- 01 gói niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Đình Hải, ghi số 1613 (là tang vật ma túy còn lại sau giám định).

- 01 điện thoại di động màu vàng có hình quả táo khuyết và 03 mắt camera phía sau thu giữ của Nhung.

Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 11 tháng 01 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo La Thùy N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nêu các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng thì đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không có tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo La Thùy N, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo La Thùy N có hành vi cất giấu trái phép 2,0712 gam ma túy ở thể rắn, loại MDMA nhằm mục đích sử dụng, đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp “MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”, là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội. Nó không chỉ là hành vi xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, tạo điều kiện làm gia tăng tệ nạn nghiện hút ma túy trong thanh thiếu niên và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức và biết rõ tác hại của việc cất giấu chất ma tuý để sử dụng là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị rất nghiêm khắc, nhưng chỉ vì muốn thỏa mãn cơn nghiện mà bị cáo đã bất chấp tất cả, xem thường pháp luật và lợi ích của cộng đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù nhằm mục đích cải tạo, giáo dục, tạo điều kiện cho bị cáo cai nghiện một cách triệt để, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét tình tiết: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự thú hành vi phạm tội của bản thân, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về vật chứng vụ án:

 - 01 gói niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Đình Hải, ghi số 1613 (là tang vật ma túy còn lại sau giám định) là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu và tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động màu vàng có hình quả táo khuyết và 03 mắt camera phía sau thu giữ của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:

Căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự:

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

[1] Tuyên bố bị cáo La Thùy N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo : La Thùy N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/9/2020.

[2] Tịch thu và tiêu hủy 01 gói niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Đình Hải, ghi số 1613 (tang vật ma túy còn lại sau giám định).

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động màu vàng có hình quả táo khuyết và 03 mắt camera phía sau.

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 203/PNK ngày 30/12/2020 của Công an quận Tân Bình).

[3] Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh.


18
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 28/2021/HS-ST ngày 02/02/2021 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:28/2021/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Tân Bình - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:02/02/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về