Bản án 28/2019/HS-ST ngày 13/08/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 28/2019/HS-ST NGÀY 13/08/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 13 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2019/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Lương Vũ L, sinh ngày 07/12/1994 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Xuân L1, sinh năm 1966 và bà Vũ Thị H, sinh năm 1968; có vợ là Nguyễn Thị H1, sinh năm 1994; có 01 con, sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/4/2019; chuyển tạm giam từ ngày 20/4/2019; có mặt.

- Người làm chứng: Lê Thị N, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Người chứng kiến: Trịnh Văn P, sinh năm 1958; nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 16/4/2019, Lương Vũ L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Liberty màu trắng biển kiểm soát 15F1-011.88 đi vào đường tàu T, quận L, Hải Phòng mua 01 túi nilon ma túy gồm “thuốc lắc” và “ke” với giá 7.000.000 đồng của người đàn ông không quen biết mang về để sử dụng. Khi về đến nhà, L kiểm tra bên trong có 03 túi nilon chứa tinh thể màu trắng và 18 viên thuốc lắc, trong đó có 05 viên để trong 01 túi nilon. Sau đó L lấy 01 viên để sử dụng. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, L cất 01 túi nilon chứa 05 viên thuốc lắc vào túi áo khoác phía trước bên phải; cất 01 túi nilon chứa 12 viên thuốc lắc và 03 túi nilon chứa tinh thể màu trắng vào túi áo ngực phía trong bên trái của áo khoác rồi mặc chiếc áo khoác này đi xe mô tô biển kiểm soát 15F1-01188 đến quán Internet của ông Ngô Quang N1 ở thôn T, xã M để chơi điện tử. L ngồi ở ghế máy tính số 05, cởi áo khoác vắt lên lưng ghế và ngồi chơi điện tử đến khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày thì bị Công an huyện K bắt quả tang và thu giữ vật chứng gồm: 01 áo khoác dài tay màu đen nhãn hiệu Adidas có sọc màu trắng ở tay; tại túi áo khoác phía trước bên phải có 01 túi nilon màu trắng kích thước 04x04cm chứa 05 viên nén màu xanh hình trụ, kích thước 0,5x01cm, in chữ LV (niêm phong mẫu M1); tại túi áo ngực phía trong bên trái áo khoác có 01 túi nilon màu trắng kích thước 10x15cm chứa 12 viên nén màu xanh hình trụ, kích thước 0,5x01cm, in chữ LV (niêm phong mẫu M2) và 03 túi nilon màu trắng, mỗi túi có kích thước 03x05cm chứa tinh thể màu trắng (niêm phong mẫu M3); 01 xe mô tô nhãn hiêu Liberty màu trắng biển kiểm soát 15F1-011.88 và số tiền 7.000.000 đồng.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của L, Cơ quan điều tra không thu giữ được vật chứng gì.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 15F1-011.88 Cơ quan điều tra đã xác minh thuộc quyền sở hữu của bà Vũ Thị H (mẹ đẻ bị cáo L), nên đã trả lại cho bà H. Số vật chứng còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì, 01 áo khoác dài tay màu đen nhãn hiệu Adidas có sọc màu trắng ở tay và số tiền 7.000.000 đồng chuyển Chi cục Thi hành án dân sự để xử lý theo vụ án.

Theo kết luận giám định số 154/KLGĐ (Đ6) ngày 19/4/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: 05 viên nén màu xanh (mẫu M1) là ma túy MDMA có khối lượng 1,6788 gam; 12 viên nén màu xanh (mẫu M2) là ma túy MDMA có khối lượng 3,9674 gam; tinh thể màu trắng (mẫu M3) là ma túy Ketamine có khối lượng 2,6339 gam.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu.

Tại bản Cáo trạng số 32/CT-VKS-KT ngày 16/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo theo điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận tội: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 16/4/2019, L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15F1-011.88 vào đường tàu T, quận L, Hải Phòng mua 01 túi nilon ma túy gồm “thuốc lắc” và “ke” với giá 7.000.000 đồng của người đàn ông không quen biết về để sử dụng; bên trong có 03 túi nilon chứa ma túy “Ke” và 18 viên thuốc lắc, trong đó có 05 viên để trong 01 túi nilon. L đã sử dụng 01 viên thuốc lắc tại nhà. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, L cất giấu 01 túi nilon chứa 05 viên thuốc lắc vào túi áo khoác phía trước bên phải; 01 túi nilon chứa 12 viên thuốc lắc và 03 túi nilon chứa ma túy “Ke” vào túi áo ngực phía trong bên trái của chiếc áo khoác dài tay màu đen nhãn hiệu Adidas có sọc màu trắng ở tay. L mặc chiếc áo khoác này cùng toàn bộ số ma túy cất giấu trong áo khoác, đi xe mô tô đến quán Internet của ông Ngô Quang N ở thôn T, xã M để chơi điện tử. L ngồi ở ghế máy tính số 05 và cởi áo khoác vắt lên lưng ghế, ngồi chơi điện tử đến khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày thì bị Công an huyện K bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, chị Lê Thị N khai: Chị là nhân viên trông coi quản lý quán kinh doanh dịch vụ Internet của ông Ngô Quang N1 (là bố chồng). Khoảng 20 giờ ngày 16/4/2019 bị cáo L đi xe mô tô một mình đến quán để chơi game và ngồi ghế tại vị trí máy tính số 5. L mặc chiếc áo khoác dài tay màu đen nhãn hiệu Adidas có sọc màu trắng ở tay; trước khi chơi game chị nhìn thấy bị cáo cởi áo khoác vắt lên lưng ghế số 05 và ngồi chơi điện tử đến khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày thì bị Công an huyện K bắt quả tang và thu giữ vật chứng đúng như lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa và biên bản thu giữ vật chứng. Chị không biết việc bị cáo L tàng trữ trái phép chất ma túy bị bắt giữ.

Sau quá trình thẩm vấn, đánh giá tính chất của vụ án cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Lương Vũ L mức án từ 48 tháng đến 60 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập kinh tế ổn định, không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong chất ma túy còn lại sau giám định, 01 áo khoác dài tay màu đen nhãn hiệu Adidas có sọc màu trắng ở tay.

- Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Lương Vũ L số tiền 7.000.000 đồng; nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, bị cáo thành khẩn khai nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Thụy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản thu giữ vật chứng, sơ đồ hiện trường, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 16/4/2019, tại quán Internet của ông Ngô Quang N1 ở thôn T, xã M, huyện K; Lương Vũ L đã có hành vi tàng trữ trái phép 5,6462 gam ma túy MDMA và 2,6339 gam ma túy Ketamine để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng. Như vậy, hành vi của bị cáo Lương Vũ L đã thỏa mãn cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong nhân dân; đồng thời là điều kiện, nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo đồng thời để phòng ngừa tội phạm.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, có thành tích xuất sắc trong học tập, được tặng Bằng khen, Giấy khen; có bà nội được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất, tặng Huy hiệu 55 tuổi đảng. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề của khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập kinh tế ổn định, không có tài sản riêng; tại phiên tòa Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có cơ sở được chấp nhận, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

- 01 phong bì niêm phong chất ma túy còn lại sau giám định, 01 áo khoác dài tay màu đen nhãn hiệu Adidas có sọc màu trắng ở tay; Cần tịch thu tiêu hủy.

- Về số tiền 7.000.000 đồng thu giữ của bị cáo L không liên quan đến tội phạm. Cần trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[8] Trong vụ án này, Cơ quan điều tra chưa xác định được tên tuổi địa chỉ của người bán ma túy cho L nên Quyết định tách ra để điều tra xử lý sau là phù hợp. Chị Lê Thị N là người trông coi quản lý quán Internet nhưng không biết việc L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Lương Vũ L 48 (bốn mươi tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/4/2019.

Về xử lý vật chứng:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong chất ma túy còn lại sau giám định, 01 áo khoác dài tay màu đen nhãn hiệu Adidas có sọc màu trắng ở tay (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18 tháng 7 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K).

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả lại cho bị cáo Lương Vũ L số tiền 7.000.000đ (bảy triệu đồng) (Theo biên lai thu tiền số AA.0002743 ngày 18 tháng 7 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K), nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


69
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 28/2019/HS-ST ngày 13/08/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:28/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Kiến Thuỵ - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:13/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về