Bản án 28/2019/HS- ST ngày 22/04/2019 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 28/2019/HS- ST NGÀY 22/04/2019 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 22 tháng 4 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2019/TLST- HS ngày 22/3/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2019/HSST- QĐ, ngày 10/4/2019 đối với bị cáo:

Lý Thu H, sinh ngày 10/5/1999 tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Khu X, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn T và bà: Nguyễn Thị S; Chồng: Giang Ngọc H (đã ly hôn) con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý hình sự, chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị kỷ luật. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/01/2019 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Chị Hoàng Thị C, sinh năm 1982, cư trú tại: Tổ  Z, khối Y, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thùy T, sinh năm 1991; cư trú tại: Tổ Z, khối V, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 04/12/2018 Công an huyện Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn nhận được đơn trình báo của chị Hoàng Thị C, sinh năm 1982, trú tại: Tổ Z, khối Y, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn về việc chiều ngày 02/12/2018 bị cháu gái là Lý Thu H, sinh năm 1999, trú tại: Khu X, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn mượn chiếc xe môtô biển kiểm soát: 12LA – 016.88 để đi giao hàng quần áo, sau đó không trả mà mang bán cho Nguyễn Thùy T, sinh năm 1991, trú tại: Tổ Z, khối V, thị trấn C, huyện C, với giá 5.000.000 đồng.

Cùng ngày, Công an huyện Cao Lộc đã tạm giữ của Nguyễn Thùy T: 01 xe mô tô hiệu SYMEX50 màu đen – bạc biển kiểm soát: 12LA- 016.88; 01 đăng ký xe số 013669 mang tên Hoàng Thị C và 01 giấy mua bán xe.

Kết luận định giá số: 43 ngày 10/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xác định xe mô tô nhãn hiệu  SYMEX  50  màu  đen-  bạc,  biển  kiểm soát:  12LA-  016.88  có  giá  trị: 10.640.000 đồng.

Xác định hành vi của Lý Thu H thực hiện có dấu hiệu tội phạm hình sự, ngày 07/01/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can để điều tra làm rõ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Lý Thu H khai như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 02/12/2018 Lý Thu H đến phòng trọ của thím ruột là chị Hoàng Thị C để mượn xe mô tô đi giao hàng quần áo. Khi gặp chị C, H đặt vấn đề mượn xe, chị C đồng ý và chỉ chỗ treo chìa khóa xe. H lấy chìa khóa, điều khiển xe môtô biển kiểm soát: 12LA- 016.88 đi giao hàng. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, do không có tiền tiêu sài và trả nợ H nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe trên nên đã điều khiển xe đến gặp Nguyễn Thùy T, sinh năm 1991, trú tại: Tổ Z, khối V, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn để bán. Đến nơi, H mở cốp xe để kiểm tra thì thấy trong cốp xe có đăng ký xe mang tên Hoàng Thị C, H lấy cho T xem và thỏa thuận giá bán xe là 5.000.000 đồng. Do trước đó H còn nợ T 5.000.000 đồng nên cả hai thống nhất ghi giá bán xe trong giấy mua bán là10.000.000 đồng. T đưa cho H 5.000.000 đồng, số tiền này H đã tiêu dùng cá nhân hết. Sau đó H gọi điện cho chị C nói dối là xe hỏng đang gửi ở hiệu sửa xe. Đến ngày 04/12/2018 chị C đã đến Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tố giác về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của H.

Đối với Nguyễn Thùy T quá trình điều tra xác định khi mua xe mô tô với Lý Thu H, H không nói với Nguyễn Thùy T là xe mô tô biển kiểm soát: 12LA-016.88 là do phạm tội mà có,  nên không đặt vấn đề xử lý. Đối với số tiền 5.000.000 đồng Nguyễn Thùy T đã tự thỏa thuận với Lý Thu H nên không yêucầu Tòa giải quyết.

Xe mô tô hiệu SYMEX50 màu đen – bạc, biển kiểm soát: 12LA - 016.88 xác định là tài sản hợp pháp của chị Hoàng Thị C, ngày 24/01/2019 Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Hoàng Thị C.

Bị hại chị Hoàng Thị C khai: Hiện nay chị C đã được nhận lại chiếc xe môtô biển kiểm soát: 12A – 016.88 và không bị mất mát hỏng hóc gì,  Lý Thu H đã bồi thường cho chị C số tiền 2.000.000 đồng để hỗ trợ phương tiện đi lại trong thời gian bị giữ xe. Nay bị hại không có yêu cầu bị cáo Lý Thu H bồi thường thêm và chị C xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo H.

Tại phiên tòa kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng  điểm b khoản 1 Điều 175;  điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1,2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự - Tuyên bố bị cáo Lý Thu H phạm Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, nhân đôi thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng vì bị cáo Lý Thu H điều kiện kinh tế khó khăn, thu nhập không có.

Về bồi thường dân sự: Người bị hại Hoàng Thị C đã nhận lại tài sản và đã nhận tiền bồi thường trong giai đoạn điều tra,  nay không còn yêu cầu bồi thường; người có quyền có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thùy T đã tự thỏa thuận về dân sự với bị cáo Lý Thu H và không có yêu cầu Tòa giải quyết về dân sự, nên không đề cập giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự

Xác nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn trong ngày 24/01/2019 đã trả lại cho chị Hoàng Thị C: Xe mô tô hiệu SYMEX50 màu đen – bạc, biển kiểm soát: 12LA-016.88 và đăng ký xe.

Bị cáo Lý Thu H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. 

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Tại lời nói sau cùng bị cáo hối hận về hành vi của bản thân và xin được Hội đồng xét xử cho mức án nhẹ nhất để có điều kiện cải tạo ngoài xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Khoảng 17 giờ ngày 02/12/2018 tại tổ Z, khối Y, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn bị cáo Lý Thu H đã có hành vi mượn xe mô tô hiệu  SYMEX50 màu đen – bạc biển kiểm soát: 12LA- 016.88,  kèm theo 01 đăng ký xe số 013669 của thím ruột là Hoàng Thị C để đi giao hàng. Sau khi giao hàng xong, do không có tiền để tiêu sài và trả nợ H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe và mang đi bán cho Nguyễn Thùy T ở tổ Z, khối V, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn với giá 5.000.000 đồng, đã ăn tiêu hết, không có khả năng trả lại tài sản cho chị Hoàng Thị C. Căn cứ kết luận định giá tài sản chiếc xe H chiếm đoạt của Hoàng Thị C có giá trị 10.640.000 đồng.

 [2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Lý Thu H có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, lợi dụng lòng tin của thím ruột mượn tài sản là chiếc xe mô tô để đi giải quyết công việc, sau đó đã nảy ý định chiếm đoạt chiếc xe và đã mang bán chiếc xe mô tô đó cho Nguyễn Thùy T lấy 5.000.000 đồng và trả nợ cho T 5.000.000 đồng, sau đó không có khả năng trả tài sản là chiếc xe cho thím ruột là chị Hoàng Thị C. Hành vi của bị cáo Lý Thu H là bất hợp pháp, vi phạm pháp luật, tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 10.640.000 đồng; nên hành vi của bị cáo Lý Thu H đã đủ yếu tố cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

 [3] Khi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, tuổi chịu trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, là một trong những quyền quan trọng được pháp luật bảo vệ. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo Lý Thu H cần phải xử lý theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc truy tố bị cáo Lý Thu H ra trước Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc theo tội danh và điều khoản trong Bộ luật Hình sự như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

 [4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Thấy hành vi phạm tội của bị cáo thuộc tội phạm ít nghiêm trọng vì có mức cao nhất của khung hình phạt đến 03 năm tù.

 [5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

 [6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả bằng việc bồi thường cho bị hại Hoàng Thị C số tiền 2.000.000 đồng; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị hại Hoàng Thị C có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

 [7] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt thể hiện ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

 [8]  Căn cứ vào quy định khoản 1 Điều 175; căn cứ khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; căn cứ quy định về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã phân tích ở trên; sau khi cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện cũng như sự cần thiết trong việc đấu tranh phòng chống loại tội phạm này tại thời điểm hiện nay. Hội đồng xét xử nhận thấy mức án cao nhất mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc đề nghị đối với bị cáo 09 tháng tù là tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội nên được chấp nhận. Xét thấy mức án bị cáo bị xử phạt không quá 03 năm, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nhân thân tốt; có nơi cư trú rõ ràng, xét không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù thì bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, nên cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách nhân đôi; giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

 [9 ] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy qua biên bản xác minh về thu nhập của bị cáo tại chính quyền địa phương, thấy bị cáo không có tài sản, thu nhập thấp nên không phạt tiền bị cáo theo khoản 5 Điều 175 của Bộ luật hình sự.

 [10] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

 [ 11] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xác nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn trong ngày 24/01/2019 đã trả lại cho chị Hoàng Thị C: Xe mô tô hiệu SYMEX50 màu đen – bạc, biển kiểm soát: 12LA-016.88  cùng 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 013669 mang tên Hoàng Thị C.

 [12] Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, về xử lý vật chứng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

 [13] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo phù hợp với các chứng cứ khác và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.

 [14] Đối với Nguyễn Thùy T quá trình điều tra xác định: Khi T mua xe mô tô với Lý Thu H, H không nói với Nguyễn Thùy T là xe mô tô biển kiểm soát: 12LA-016.88 là do phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý là phù hợp.

 [15] Về án phí: Bị cáo Lý Thu H bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

 [16] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 175; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Thu H phạm Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lý Thu H 09 tháng tù, cho hưởng án treo.

Thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22/4/2019)

Giao bị cáo Lý Thu H cho Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, bị cáo Lý Thu H cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp bị cáo Lý Thu H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án Hình sự.

3. Về xử lý vật chứng: Xác nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã trả lại cho chị Hoàng Thị C:  01 chếc xe mô tô hiệu SYMEX50 màu đen – bạc, biển kiểm soát: 12LA-016.88 cùng 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 013669 mang tên Hoàng Thị C (theo biên bản trả lại đồ vật, tài liệu ngày 24/01/2019 của Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn)

4. Về án phí: Bị cáo Lý Thu H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.


72
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 28/2019/HS- ST ngày 22/04/2019 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:28/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cao Lộc - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:22/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về