Bản án 28/2019/DS-ST ngày 15/02/2019 về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản giữa Công ty tài chính V và bà H

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 28/2019/DS-ST NGÀY 15/02/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VAY TÀI SẢN GIỮA CÔNG TY TÀI CHÍNH V VÀ BÀ H

Trong ngày 15/02/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 449/2018/TLST-DS ngày 07/8/2018 về việc: “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2019/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 01 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH Một thành viên V (Công ty tài chính V)

Trụ sở: Tầng 2, Tòa nhà R, số 9 đường Đ, phường M, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1994 (có mặt) (Văn bản ủy quyền số 7952/UQTA-VH.18 ngày 22/5/2018)

Địa chỉ liên lạc: 43 đường B, khu dân cư N, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1968 (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt đề ngày 23/8/2018)

Địa chỉ: 123 đường V, phường T, quận S, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, phía nguyên đơn Công ty tài chính TNHH Một thành viên V (gọi tắt là Công ty tài chính V) do ông Nguyễn Văn T đại diện theo ủy quyền trình bày: Ngày 27/11/2015, bà Trần Thị H có ký Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20151127-500000-0820 với Công ty tài chính TNHH Một thành viên V để vay số tiền 46.911.014 đồng (bốn mươi sáu triệu chín trăm mười một nghìn không trăm mười bốn đồng), lãi suất hai bên thỏa thuận: 2,5%/tháng, mục đích vay: để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận thì bà H có trách nhiệm thanh toán tổng số tiền vốn và lãi suất là 71.681.000 đồng, trả chậm liên tiếp trong vòng 36 tháng: 35 tháng đầu mỗi tháng trả số tiền 1.992.000 đồng, tháng cuối cùng trả 1.961.000 đồng, kỳ thanh toán đầu tiên bắt đầu từ ngày 04/01/2016.

Thc hiện hợp đồng, bà Trần Thị H đã nhận đủ số tiền vay và thanh toán cho Công ty tài chính V tổng số tiền là 35.944.000 đồng (bao gồm 23.253.650 đồng tiền vốn gốc và 12.690.350 đồng tiền lãi). Kể từ ngày 28/4/2018, bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Công ty tài chính V khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị H phải thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật số tiền còn nợ là 35.737.000 đồng (ba mươi lăm triệu bảy trăm ba mươi bảy nghìn đồng), trong đó nợ gốc là 23.657.364 đồng, nợ lãi là 12.079.636 đồng.

Nguyên đơn Công ty tài chính TNHH Một thành viên V chỉ cho cá nhân bà Trần Thị H vay tiền, không liên quan đến người khác, do đó nguyên đơn chỉ yêu cầu cá nhân bà H có trách nhiệm trả cho ngân hàng số tiền còn nợ nêu trên.

Ti bản tự khai ngày 23/8/2018, bị đơn là bà Trần Thị H xác nhận có vay của Công ty tài chính V số tiền 46.000.000 đồng, đã trả được 18 tháng nhưng không nhớ chính xác số tiền vốn và lãi suất đã trả. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu trả ngay một lần số tiền vốn, lãi suất còn thiếu là 37.000.000 đồng thì bà H đề nghị được trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng, bắt đầu thanh toán từ ngày 10/9/2018 cho đến khi hết nợ vì hiện nay bà đang gặp khó khăn.

Ti phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty tài chính V là ông Nguyễn Văn T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án buộc bà Trần Thị H phải thanh toán ngay một lần khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật tổng số tiền còn thiếu tính đến ngày 15/02/2019 là 35.737.000 đồng (ba mươi lăm triệu bảy trăm ba mươi bảy nghìn đồng), trong đó nợ gốc là 23.657.364 đồng, nợ lãi là 12.079.636 đồng. Ngoài ra, nguyên đơn không có yêu cầu gì khác.

Bị đơn bà Trần Thị H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt đề ngày 23/8/2018.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã đảm bảo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, tại phiên tòa bị đơn bà Trần Thị H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ và có đơn đề nghị giải quyết vụ án vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt bà H là đúng theo quy định pháp luật. Qua kiểm sát hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, căn cứ vào các Điều 463, 468 và Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty tài chính V. Bị đơn bà Trần Thị H chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 về việc chấp hành pháp luật tố tụng và nội dung của vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1]-Thẩm quyền loại việc: Công ty tài chính TNHH Một thành viên V (Công ty tài chính V) khởi kiện bà Trần Thị H yêu cầu thanh toán tiền vay theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20151127-500000-0820 ngày 27/11/2015. Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc tranh chấp dân sự: “Hợp đồng dân sự vay tài sản”.

[2]-Thẩm quyền theo lãnh thổ: Công ty tài chính V có đơn khởi kiện bị đơn bà Trần Thị H có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ 123 đường V, phường T, quận S, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

[3]-Thời hiệu khởi kiện vụ án: Căn cứ vào thời điểm bà Trần Thị H ngừng thanh toán các khoản theo thỏa thuận cho Công ty tài chính V bắt đầu vào ngày 28/4/2018. Ngày 27/7/2018, Công ty tài chính V có đơn khởi kiện gửi Tòa án nhân dân Quận 6. Thời hiệu khởi kiện đối với hợp đồng dân sự được xác định là 03 năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm theo quy định tại Điều 429, 688 Bộ luật dân sự năm 2015 nên việc khởi kiện vẫn còn trong thời hiệu khởi kiện.

[4] Bị đơn bà Trần Thị H đã được Tòa án tống đạt, triệu tập hợp lệ đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời bà H có đơn xin giải quyết vụ án vắng mặt, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bà H tham gia phiên tòa nên căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử mở phiên tòa xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

[1] Theo ông Nguyễn Văn T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty tài chính V trình bày: Ngày 27/11/2015, bà Trần Thị H có ký Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20151127-500000-0820 với Công ty tài chính V để vay số tiền 46.911.014 đồng (bốn mươi sáu triệu chín trăm mười một nghìn không trăm mười bốn đồng), lãi suất hai bên thỏa thuận: 2,5%/tháng, mục đích vay: để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận thì bà H có trách nhiệm thanh toán tổng số tiền vốn và lãi suất là 71.681.000 đồng, trả chậm liên tiếp trong vòng 36 tháng: 35 tháng đầu mỗi tháng trả số tiền 1.992.000 đồng, tháng cuối cùng trả 1.961.000 đồng, kỳ thanh toán đầu tiên bắt đầu từ ngày 04/01/2016. Bà H đã thanh toán cho Công ty tài chính V 35.944.000 đồng (bao gồm 23.253.650 đồng tiền vốn gốc và 12.690.350 đồng tiền lãi). Kể từ ngày 28/4/2018, bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán.

[2] Theo bị đơn bà Trần Thị H trình bày tại bản tự khai ngày 23/8/2018, bà H xác nhận có vay của Công ty tài chính V số tiền 46.000.000 đồng, đã trả được 18 tháng nhưng không nhớ chính xác số tiền vốn và lãi suất đã trả. Đối với số tiền nguyên đơn khởi kiện yêu cầu trả ngay một lần khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì bà H đề nghị cho trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi hết nợ, bắt đầu thanh toán từ ngày 10/9/2018 vì hiện nay bà đang gặp khó khăn.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy việc giao dịch giữa các bên là có thật và hợp pháp. Bị đơn bà Trần Thị H cam kết trả dần số tiền còn thiếu cho nguyên đơn mỗi tháng 1.000.000 đồng bắt đầu từ ngày 10/9/2018 nhưng không thực hiện nên nguyên đơn Công ty tài chính TNHH Một thành viên V yêu cầu bị đơn bà Trần Thị H phải thanh toán ngay một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật số tiền còn nợ tính đến ngày 15/02/2019 là 35.737.000 đồng (ba mươi lăm triệu bảy trăm ba mươi bảy nghìn đồng), trong đó nợ gốc là 23.657.364 đồng, nợ lãi là 12.079.636 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 466, 468 Bộ luật dân sự 2015 nên có cơ sở chấp nhận.

[4] Theo nội dung Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì “Đối với các khoản vay của tổ chức tín dụng, ngoài khoản tiền nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn, phí mà khách hàng vay phải thanh toán cho bên cho vay theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm, thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này…”

[5] Trong vụ án này, nguyên đơn Công ty tài chính V không yêu cầu bị đơn bà Trần Thị H phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

[1] Bà Trần Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự đối với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.

[2] Công ty tài chính V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

n cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 266 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 149, các Điều 429, 463, 465, 466, 468 và Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 26 của Luật thi hành án dân sự năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Án lệ số 08/2016 ngày 17/10/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty tài chính TNHH Một thành viên V (Công ty tài chính V).

1/ Bà Trần Thị H phải thanh toán cho Công ty tài chính TNHH Một thành viên V số tiền 35.737.000 đồng (ba mươi lăm triệu bảy trăm ba mươi bảy nghìn đồng), trong đó nợ gốc là 23.657.364 đồng, nợ lãi là 12.079.636 đồng.

Thi hạn thanh toán: Trả ngay một lần khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày Công ty tài chính TNHH Một thành viên V có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Trần Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ việc trả khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng bà H còn phải trả tiền lãi cho Công ty tài chính TNHH Một thành viên V theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ Luật dân sự 2015.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Trần Thị H phải chịu 1.786.850 đồng (một triệu bảy trăm tám mươi sáu nghìn tám trăm năm mươi đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Công ty tài chính TNHH Một thành viên V được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 893.425 đồng (tám trăm chín mươi ba nghìn bốn trăm hai mươi lăm đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0010101 ngày 07/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

3/ Quyền kháng cáo: Công ty tài chính TNHH Một thành viên V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bà Trần Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

4/ Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


52
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về