Bản án 28/2018/HS-ST ngày 01/02/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 28/2018/HS-ST NGÀY 01/02/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 29 tháng 01 và ngày 01 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 393/2017/TLST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2017 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2018/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:

Võ Duy C (tên gọi khác T), sinh năm 1989 tại Thành phố H; thường trú: 76/4 khu phố 1, phường P, Quận X, Thành phố H; chỗ ở: 9/90 khu phố D, phường B, thị xã T, tỉnh Bình D; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Võ Văn B, không rõ năm sinh và bà Trần Thị Mỹ D, sinh năm 1960; bị cáo có 01 anh ruột, sinh năm 1979; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam từ ngày 19/10/2017 cho đến nay, có mặt.

- Người bị hại: Anh Đặng Thanh Q, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện P, tỉnh Q; chỗ ở hiện nay: Khu phố 3, phường A, thị xã T, tỉnh B, có mặt ngày 29/01/2017, vắng mặt ngày 01/02/2018.

- Người làm chứng:

1. Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1979; thường trú: 367/3C khu phố C, phường T, thị xã D, tỉnh B, vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Đình L, sinh năm 1974; thường trú: 367/3C khu phố C, phường T, thị xã D, tỉnh B, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ ngày 28/9/2017 Võ Duy C đến nhà nghỉ L, địa chỉ 367/3C khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh B thuê phòng số 206 để nghỉ. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày, C đi bộ qua hành lang nhà nghỉ nhìn thấy phòng số 210 của anh Trần Thanh Q và vợ đang nằm ngủ không khóa cửa. C đẩy cửa vào thấy có 01 ba lô màu đen để trên chiếc nghế gần giường ngủ, C lấy ba lô đem về phòng 206 kiểm tra bên trong phát hiện bên trong ba lô có 01 máy tính hiệu Acer Aspire ES 15 màu đen, 01 thẻ nhà báo mang tên Đặng Thanh Q. Sau đó C trả phòng đem những tài sản đã chiếm đoạt được mang về nhà trọ tại 9/90 khu phố D, phường B, thị xã T, tỉnh B cất giấu. Ngày 19/10/2017, Võ Duy C đến nhà nghỉ T.L để thuê phòng nghỉ thì bị lực lượng Công an thị xã D bắt.

Qua khám xét chỗ ở thu giữ 01 ba lô bên trong có 01 máy tính hiệu Acer Aspire ES 15 màu đen, 01 thẻ nhà báo mang tên Đặng Thanh Q và 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J7 màu vàng đồng.

Quá trình điều tra Võ Duy C xác định 01 ba lô bên trong có 01 máy tính hiệu Acer Aspire ES 15 màu đen, 01 thẻ nhà báo mang tên Đặng Thanh Q và 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J7 màu vàng đồng do bị cáo chiếm đoạt của anh Đặng Thanh Q. Anh Đặng Thanh Q xác định bị chiếm đoạt 01 ba lô bên trong có 01 máy tính hiệu Acer Aspire ES 15 màu đen, 01 thẻ nhà báo mang tên Đặng Thanh Q, 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 5S và 01 bóp da bên trong có số tiền 500.000 đồng, điện thoại Samsung Galaxy J7 màu vàng đồng không phải tài sản của anh Q.

Vật chứng thu giữ: 01 ba lô bên trong có 01 máy tính hiệu Acer Aspire ES 15 màu đen, 01 thẻ nhà báo mang tên Đặng Thanh Q và 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J7 màu vàng đồng.

Căn cứ kết luận định giá tài sản số 283/BB.ĐG ngày 27/10/2017 của Hội đồng định giá thị xã D kết luận: 01 máy tính hiệu Acer Aspire ES 15 màu đen trị giá 8.000.000 đồng.

Tại cáo trạng số: 14/QĐ - KSĐT ngày 25 tháng 12 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, tỉnh B truy tố bị cáo Võ Duy C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Võ Duy C mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự người bị hại không yêu cầu bồi thường gì nên Viện kiểm sát không đặt ra xem xét. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Sam sung Galaxy J7 màu vàng đồng chưa xác định được chủ sở hữu, 01 điện thoại Apple Iphone 5S, 01 bóp da và số tiền 500.000 đồng của người bị hại Đặng Thanh Q cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra xác minh, làm rõ xử lý sau.

Tại phiên tòa, bị cáo Võ Duy C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trong bản cáo trạng đã nêu và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; người bị hại và những người làm chứng cũng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Khoảng 04 giờ ngày 28/9/2017 tại nhà nghỉ L địa chỉ 367/3C khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh B, lợi dụng lúc người bị hại Đặng Thanh Q ngủ không khóa cửa phòng, bị cáo Võ Duy C đã lén lút đẩy cửa vào phòng số 210 chiếm đoạt 01 ba lô bên trong có 01 máy tính hiệu Acer Aspire ES 15 màu đen, 01 thẻ nhà báo mang tên Đặng Thanh Q. Căn cứ vào kết luận định giá tài sản số 283/BB.ĐG ngày 27/10/2017 của Hội đồng định giá thị xã D xác định tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của anh Đặng Thanh Q là 8.000.000 đồng.

Tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng ...., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

Như vậy, hành vi của bị cáo Võ Duy C đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Tội phạm và hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 14/QĐ - KSĐT ngày 25 tháng 12 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã D và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo Võ Duy C là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng, gây nguy hại không lớn cho xã hội nhưng đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì tham lam tư lợi mong muốn có tiền để tiêu xài nên đã cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiên trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Do đó cần xem xét các tình tiết trên để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

[6] Về nhân thân: Bản thân bị cáo là người không có nghề nghiệp, chưa có tiền án, tiền sự, gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, từ nhỏ không ở với cha, sống xa gia đình nhiều năm nên thiếu sự quan tâm, giáo dục của gia đình.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt là 01 máy tính hiệu Acer Aspire ES 15 màu đen, 01 thẻ nhà báo mang tên Đặng Thanh Q đã thu hồi trả lại cho người bị hại. Tại phiên tòa người bị hại xác định không có yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Đối với 01 điện thoại di động hiệu Sam sung Galaxy J7 màu vàng đồng chưa xác định được chủ sở hữu, 01 điện thoại Apple Iphone 5S, 01 bóp da và số tiền 500.000 đồng của người bị hại Đặng Thanh Q cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra xác minh, làm rõ xử lý sau là phù hợp theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa người bị hại xác định không yêu cầu giải quyết các tài sản trên trong vụ án này và thống nhất quan điểm của cơ quan điều tra và Viện kiểm sát về việc tiếp tục xác minh, điều tra.

[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo Võ Duy C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Võ Duy C phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Duy C 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù từ tính ngày 19 tháng 10 năm 2017.

2. Án phí sơ thẩm:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Võ Duy C phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; riêng người bị hại vắng mặt tại buổi tuyên án có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


125
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 28/2018/HS-ST ngày 01/02/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:28/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dĩ An - Bình Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:01/02/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về