Bản án 280/2020/HNGĐ-ST ngày 11/12/2020 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH QUẢNG NAM

BẢN ÁN 280/2020/HNGĐ-ST NGÀY 11/12/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

 Ngày 15 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 206/2020/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2020/QĐXX- ST ngày 27 tháng 11 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Đoàn Hương T, địa chỉ: Tổ 32, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; có đơn xin vắng mặt

 - Bị đơn: anh Trương Quang V; Hộ khẩu thường trú: Tổ 06B, phường A, quận L, thành phố Đà Nẵng, hiện đang chấp hành án tại Trại giam AD có địa chỉ: xã DH, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam, có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 07 tháng 10 năm 2020 và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Đoàn Hương T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2015, chị Đoàn Hương T và anh Trương Quang V tự nguyện kết hôn, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND phường A, quận L, thành phố Đà Nẵng. Sau ngày cưới vợ chồng chung sống đến năm 2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, anh V ham chơi, rượu chè, sử dụng ma túy, thiếu trách nhiệm với gia đình, không quan tâm chăm sóc vợ con. Khi cãi vã nhau anh V còn có hành vi bạo lực, đánh đập chị T. Ngày 01/8/2016, anh V bị bắt tạm giam và sau đó đi chấp hành án tại Trại giam An Điềm cho đến nay.

Nay chị T xét thấy hạnh phúc vợ chồng đã thực sự tan vỡ, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trương Quang V để chị được tự do định đoạt cuộc sống riêng của mình.

Về con chung: vợ chồng có 01 cháu là Đoàn Chí N, sinh ngày 12/02/2017, hiện đang sống với mẹ. Nay ly hôn chị T có nguyện vọng được nuôi dưỡng, giáo dục cháu N cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị T không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung chị T khai vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa can thiệp.

Tại hồ sơ vụ án bị đơn Trương Quang V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: anh V thống nhất với lời khai của chị T về việc kết hôn của vợ chồng. Quá trình chung sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì. Từ năm 2016 anh V bị bắt tạm giam và sau đó chấp hành án phạt tù cho đến nay, thời gian này chị T chỉ đến thăm nuôi 01 lần và đề cập đến vấn đề ly hôn nhưng anh không đồng ý. Nay anh V cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn gì trầm trọng, chị T tự ý khai sinh tên con theo họ mẹ mà không được sự đồng ý của anh nên anh không đồng ý ly hôn.

Về con chung: anh V thống nhất vợ chồng có 01 con chung là cháu Đoàn Chí N, sinh ngày 12/02/2017, hiện đang sống với mẹ. Nay ly hôn anh V đồng ý giao cho chị T được nuôi dưỡng, giáo dục cháu N. Anh V không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung vợ chồng tự giải quyết, không yêu cầu Tòa can thiệp. Về nợ chung vợ chồng: không có.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ phát biểu quan điểm:

Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định pháp luật.

Đối với nguyên đơn Đoàn Hương T và bị đơn Trương Quang V đã thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn và bị đơn đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là đảm bảo theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Về nội dung vụ án: xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị T và anh V đã thật sự trầm trọng, tình yêu không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị chấp nhận yêu cầu của chị T được ly hôn với anh V. Về con chung đề nghị giao cháu Đoàn Chí N (sinh ngày 12/02/2017) cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp. Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề cập. Về tài sản chung và nợ chung chị T và anh V thống nhất khai không có và không yêu cầu Tòa can thiệp nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu hiện có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Chị Đoàn Hương T khởi kiện ly hôn đối với anh Trương Quang V, hiện đang chấp hành án tại Trại giam AD có địa chỉ tại xã DH, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Đây là vụ án tranh chấp “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Đoàn Hương T và bị đơn Trương Quang V đã thực hiện đầy đủ việc trình bày ý kiến, yêu cầu của mình về các vấn đề liên quan trong vụ án. Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn Đoàn Hương T và bị đơn Trương Quang V có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Đoàn Hương T và anh Trương Quang V thì thấy anh chị đã xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tình yêu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND phường A, quận L, thành phố Đà Nẵng. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các bên khi giải quyết vụ án.

Xét thực trạng quan hệ hôn nhân của anh V, chị T thì thấy: Theo lời khai của chị T cũng như kết quả xác minh thể hiện, trong quá trình chung sống, giữa vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do anh V tính tình bạo lực, thường hay đánh đập chị T. Tại hồ sơ vụ án chị T cương quyết xin ly hôn. Anh V cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn gì trầm trọng, chị T tự ý khai sinh cho con theo họ mẹ mà không có sự đồng ý của anh nên anh không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên bản thân anh V thừa nhận từ năm 2016, anh V bị bắt tạm giam và sau đó chấp hành án phạt tù cho đến nay, giữa vợ chồng không có liên lạc, quan tâm chăm sóc nhau. Chị T chỉ đến thăm nuôi 01 lần để yêu cầu ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng anh V, chị T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã có thời gian sống ly thân nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, xử cho chị T được ly hôn với anh V là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về quan hệ con chung: Xét yêu cầu về giao nuôi con chung của vợ chồng anh V, chị T là phù hợp với thực tế và không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận, giao cháu Đoàn Chí N cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa chị T không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án chị T, anh V khai không có yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đề cập.

[2.4] Về án phí: Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc chị T phải chịu án phí kiện xin ly hôn 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) là phù hợp.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 147, 227, 228, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho chị Đoàn Hương T được ly hôn với anh Trương Quang V.

- Về con chung: Giao cho chị Đoàn Hương T là người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đoàn Chí N (sinh ngày 12/02/2017) cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi.

Chị Đoàn Hương T không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi chấp hành án xong, anh Trương Quang V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai có quyền cản trở. Khi có lý do chính đáng các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về án phí: Án phí kiện xin ly hôn số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng y) chị Đoàn Hương T phải chịu, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng y) chị T đã nộp theo biên lai thu số 0003764 ngày 07/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Đ.

- Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm. Đối với bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. (Đã giải thích luật thi hành án dân sự).


30
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án 280/2020/HNGĐ-ST ngày 11/12/2020 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:280/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đại Lộc - Quảng Nam
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:11/12/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về