Bản án 277/2019/HNGĐ-ST ngày 25/11/2019 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 277/2019/HNGĐ-ST NGÀY 25/11/2019 VỀ XIN LY HÔN

Trong ngày 25 tháng 11 năm 2019, Tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau. Xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 807/2019/HNGĐ-ST ngày 19 tháng 9 năm 2019 về việc yêu cầu xin ly hôn, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 840/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1984 (có mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

* Bị đơn: Anh Từ Vũ L, sinh năm 1982 (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: H, L, khóm , phường , thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Chị Nguyễn Thị Mỹ T trình bày tại đơn khởi kiện và tại phiên tòa như sau:

Về hôn nhân: Qua tìm hiểu chị và anh L đến với nhau trên tinh thần tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Trong cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, mâu thuẫn khoảng 03 năm nay. Nguyên nhân anh L không lo làm ăn chăm lo cho cuộc sống gia đình, vợ chồng đã không sống chung khoảng 03 tháng nay. Mặc dù, gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành. Xét thấy vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên không thể chung sống với nhau được nữa. Nay chị T yêu cầu được ly hôn với anh L.

Về con chung: Chị và anh L có 02 con chung, cháu tên Từ Chí H, sinh ngày 14/9/2010 và cháu Từ Chí T, sinh ngày 11/8/2013, hiện các cháu đang sống chung với anh L. Khi ly hôn chị giao 02 con cho anh L nuôi con, chị không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có tài sản chung.

Về nợ chung: Chị khai vợ, chồng không có nợ chung và cũng không ai nợ lại *Anh Từ Vũ L trình bày tại bản tự khai như sau:

Về hôn nhân: Về thời gian, nơi đăng ký kết hôn đúng như chị T trình bày, nhưng về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng không đúng, nay chị T yêu cầu ly hôn thì anh L không đồng ý.

Về con chung: Vợ, chồng có 02 con chung cháu tên Từ Chí H, sinh ngày 14/9/2010 và cháu Từ Chí T, sinh ngày 11/8/2013, hiện các cháu đang sống chung với anh L. Trường hợp nếu anh, chị ly hôn thì anh L yêu cầu nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có tài sản chung.

Về nợ chung: Anh L khai vợ, chồng không có nợ chung và cũng không ai nợ lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là anh Từ Vũ L vắng mặt, căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định của của pháp luật.

[2] Quan hệ tranh chấp: Về nội dung các đương sự tranh chấp được xác định là ly hôn.

[3] Về hôn nhân: Chị T và anh L có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên mối quan hệ hôn nhân của anh, chị được pháp luật công nhận và bảo vệ. Lời trình bày của chị T tại phiên tòa do vợ chồng sống không hợp nhau có nhiều mâu thuẫn, hiện tại anh, chị không còn yêu thương nhau, cả hai không ai quan tâm đến ai, cuộc sống riêng mỗi người tự định đoạt, chị xác định cũng không còn tình cảm với anh L. Nếu Toà án không chấp nhận yêu cầu của chị, thì chị cũng không chung sống với anh L. Đồng thời, anh L cũng không đến Tòa án trình bày ý kiến của mình về việc yêu cầu của chị T, điều này chứng tỏ anh L không có ý thức hàn gắn vợ chồng.

Xét thấy tình cảm vợ chồng của anh, chị đã không còn, thì không ai có ý thức để xây dựng một gia đình chung cho nhau, nguyên nhân mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt đựơc. Do đó, có cơ sở chấp nhận lời trình bày và yêu cầu của chị T về việc xin ly hôn với anh L.

[4] Về con chung: Vợ, chồng có 02 con chung cháu tên Từ Chí H, sinh ngày 14/9/2010 và cháu Từ Chí T, sinh ngày 11/8/2013, hiện các cháu đang sống chung với anh L. Khi ly hôn anh L yêu cầu nuôi con, chị T thống nhất giao con cho anh L nuôi, nên tiếp tục giao các cháu cho anh L nuôi, anh L không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

[5] Về tài sản chung: Vợ, chồng xác định không có nên không đặt ra xem xét đến.

[6] Về nợ chung, nợ riêng: Vợ, chồng xác định không có nợ ai và không ai nợ lại.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ các Điều 28, 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 27 Nghị quyết 326/20016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Mỹ T về việc xin ly hôn với anh Từ Vũ L.

Về con chung: Tiếp tục giao cháu tên Từ Chí H, sinh ngày 14/9/2010 và cháu Từ Chí T, sinh ngày 11/8/2013 cho anh L nuôi, không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị T không trực tiếp nuôi con nhưng có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung và người khác nợ lại: Không có .

2. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình: Chị Nguyễn Thị Mỹ T phải nộp số tiền 300.000 đồng, ngày 19/9/2019, chị T đã dự nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000đ theo biên lai số 0000797 được giữ y, sung vào công quỹ Nhà nước.

Chị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng anh L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.


5
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 277/2019/HNGĐ-ST ngày 25/11/2019 về xin ly hôn

Số hiệu:277/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 25/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về