Bản án 275/2019/HNGĐ-ST ngày 22/11/2019 về không công nhận vợ chồng

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 275/2019/HNGĐ-ST NGÀY 22/11/2019 VỀ KHÔNG CÔNG NHẬN VỢ CHỒNG

Ngày 22 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 884/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2019 về không công nhận vợ chồng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 913/2019/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Lê Hoàng M, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số 45B, đường R, khóm M, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

* Bị đơn: Bà Lê Ngọc B, sinh năm 1973; Địa chỉ: Số 45B, đường R, khóm M, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 18/10/2019, bản tự khai, biên bản hòa giải ngày 12/11/2019 và được bổ sung tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lê Hoàng M trình bày:

Về hôn nhân: Ông và bà Lê Ngọc B sống chung với nhau vào năm 1996, không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng mâu thuẫn có cự cãi, bà B thường xuyên xúc phạm ông. Cuộc sống chung không hạnh phúc. Ông xác định không còn tình cảm với bà B, hôn nhân của ông bà không thể hàn gắn tiếp tục chung sống, ông yêu cầu ly hôn với bà B.

Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Tú N, sinh năm 1999 và Lê Khả N, sinh năm 2005. Đối với Lê Tú N đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết trách nhiệm nuôi dưỡng. Đối với Lê Khả N, tiếp tục giao cho bà B nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Ông xác định để vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông M xác định không nợ ai và không ai nợ lại ông, bà.

* Tại bản tự khai, biên bản hòa giải ngày 12/11/2019 và được bổ sung tại phiên tòa, bà Lê Ngọc B trình bày: Bà và ông M chung sống từ năm 1996, không đăng ký kết hôn đúng như ông Lê Hoàng M trình bày. Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do ông Minh đi làm tại Thành phố Hồ Chí Minh và có quan hệ với người phụ nữ khác, chung sống như vợ chồng. Nay ông M yêu cầu ly hôn với bà, bà đồng ý.

Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Tú N, sinh năm 1999 và Lê khả N, sinh năm 2005. Khi ly hôn, đối với Lê Tú N đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết trách nhiệm nuôi dưỡng, bà đồng ý tiếp tục nuôi cháu Lê Khả N, không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà xác định để vợ chồng tụ thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà xác định ông, bà không nợ ai và không ai nợ lại ông, bà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Bà Lê Ngọc B và ông Lê Hoàng M chung sống với nhau vào năm 1996, không đăng kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Ông M yêu cầu ly hôn với bà B. Quan hệ pháp luật mà các bên tranh chấp được xác định là không công nhận vợ chồng theo quy định tại Điều 53 của Luật hôn nhân gia đình. Căn cứ vào quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[2] Về hôn nhân: Bà Lê Ngọc B và ông Lê Hoàng M chung sống với nhau như vợ chồng, có đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn theo đúng quy định pháp luật. Nay ông M yêu cầu ly hôn với bà B, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 9, khoản 2 điều 53 Luật hôn nhân gia đình, không công nhận mối quan hệ giữa bà Lê Ngọc B và ông Lê Hoàng M là vợ chồng.

[3] Về con chung: 02 người con chung tên Lê Tú N, sinh năm 1999 và Lê khả Nghi, sinh năm 2005. Khi ly hôn, đối với Lê Tú N đã trưởng thành nên không xem xét trách nhiệm nuôi dưỡng. Các đương sự thống nhất tiếp tục giao con chung Lê Khả N, cho bà B nuôi dưỡng, không yêu cầu xem xét trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con. Sự thỏa thuận này phù hợp với nguyện vọng của con chung, đúng quy định pháp luật nên có căn cứ chấp nhận.

[5] Về tài sản chung: Tự thỏa thuận

[6] Về nợ chung: Không có.

Về án phí: Ông Minh phải chịu án phí hôn nhân gia đình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 9, 14, 53, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Các Điều 28, 147, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận mối quan hệ của bà Lê Ngọc B và ông Lê Hoàng M là vợ chồng.

Về con chung: Tiếp tục giao con chung Lê Khả N, sinh ngày 26/4/2005 cho bà Lê Ngọc B tiếp tục nuôi dưỡng, không đặt ra trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con. Ông Lê Hoàng M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Các đương sự tự thỏa thuận. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về nợ chung: Ông Lê Hoàng M và bà Lê Ngọc B xác định không có, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) ông Lê Hoàng M phải nộp. Ngày 18/10/2019 ông Lê Hoàng M đã nộp tạm ứng số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0000929 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Cà Mau được chuyển thu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà Lê Ngọc B và ông Lê Hoàng M có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


16
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 275/2019/HNGĐ-ST ngày 22/11/2019 về không công nhận vợ chồng

Số hiệu:275/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:22/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về