Bản án 275/2019/HNGĐ-ST ngày 14/11/2019 về ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 275/2019/HNGĐ-ST NGÀY 14/11/2019 VỀ LY HÔN VÀ TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 14 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 652/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2019 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 222/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 9 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 366/2019/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: ông Nguyễn Văn Th, sinh năm: 1977;

Đa chỉ: khu phố 2, phường H, TP. H, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: bà Phạm Thị Ngọc M, sinh năm: 1978;

Đa chỉ: khu phố 2, phường H, TP. H, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn ly hôn và bản tự khai – Nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Th trình bày:

Ông và bà Phạm Thị Ngọc M xây dựng gia đình vào năm 1998, có đăng ký kết hôn, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn mà nguyên nhân chính là tính tình không hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm sống và kéo dài cho đến nay.

Do đó ông đề nghị Tòa án xem xét cho ông được ly hôn với bà M vì tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn đoàn tụ được nữa.

+ Về con chung: có 03 (ba) cháu là Nguyễn Văn T, sinh ngày: 21/5/1998, Nguyễn Thị Thanh T1, sinh ngày: 15/11/2004 và Nguyễn Thị Thanh T2, sinh ngày: 18/6/2006. Đối với cháu T đã trên 18 (mười tám) tuổi và có khả năng lao động nên ông không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Đối với 02 (hai) cháu T1 và T2 thì ông yêu cầu được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu sau khi ly hôn. Tạm thời ông không yêu cầu bà M phải cấp dưỡng nuôi con chung.

+ Về tài sản chung: để ông và bà M tự thỏa thuận giải quyết.

+ Về nợ chung: không có.

- Tại bản tự khai – Bị đơn là bà Phạm Thị Ngọc M trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn Th xây dựng gia đình vào năm 1997, có đăng ký kết hôn, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn mà nguyên nhân chính là do ông Th có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Đối với yêu cầu ly hôn của ông Th thì bà không đồng ý vì bà còn thương yêu chồng.

+ Về con chung: có 03 (ba) cháu là Nguyễn Văn T, sinh ngày: 21/5/1998, Nguyễn Thị Thanh T1, sinh ngày: 15/11/2004 và Nguyễn Thị Thanh T2, sinh ngày: 18/6/2006. Đối với cháu T đã trên 18 (mười tám) tuổi và có khả năng lao động nên bà không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Đối với 02 (hai) cháu T1 và T2 thì bà cũng yêu cầu được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu nếu ly hôn. Tạm thời bà không yêu cầu ông Th phải cấp dưỡng nuôi con chung.

+ Về tài sản chung: có 01 căn nhà và đất ở phường M, TP. H và 01 xe máy SH hiện bà đang sử dụng; bà sẽ thu thập chứng cứ để yêu cầu chia tài sản chung.

+ Về nợ chung: không có.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa:

+ Về thủ tục tố tụng của vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; người tham gia tố tụng dân sự đã chấp hành pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, trừ Bị đơn là bà Phạm Thị Ngọc M.

+ Về quan hệ hôn nhân: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn Th.

+ Về con chung: đối với cháu Nguyễn Văn T, sinh ngày: 21/5/1998 đã trên 18 (mười tám) tuổi và có khả năng lao động nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Đối với các cháu Nguyễn Thị Thanh T1, sinh ngày: 15/11/2004 và Nguyễn Thị Thanh T2, sinh ngày: 18/6/2006 đề nghị Hội đồng xét xử giao lại cho ông Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Tạm thời bà Phạm Thị Ngọc M không phải cấp dưỡng nuôi con chung do ông Th không có yêu cầu.

+ Về tài sản chung: để ông Th và bà M tự thỏa thuận giải quyết.

+ Về nợ chung: ông Th và bà M đều xác định là không có nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

+ Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: đề nghị Hội đồng xét xử buộc ông Th phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về thủ tục tố tụng: đối với Nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Th đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, Bị đơn là bà Phạm Thị Ngọc M mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng nên cần căn cứ vào các điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: ông Nguyễn Văn Th và bà Phạm Thị Ngọc M xây dựng gia đình vào năm 1998, có đăng ký kết hôn, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình vợ chồng chung sống theo ông Th và bà M thì chỉ hạnh phúc đến khoảng năm 2018 thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn mà nguyên nhân chính là do tính tình không hợp, thường xuyên bất đồng về quan điểm sống. Tòa án cũng đã nhiều lần triệu tập bà M lên Tòa án để làm việc, hòa giải đoàn tụ nhưng bà M không chấp hành giấy triệu tập và không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Qua xác minh tại địa phương nơi ông Th, bà M cư trú thì mâu thuẫn giữa hai ông bà là có thật; hiện tại đã sống ly thân và không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau. Điều đó cho thấy hôn nhân giữa ông Th và bà M đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, cần căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Th đối với bà M.

[3]. Về con chung: trong thời kỳ hôn nhân thì giữa ông Th và bà M có 03 (ba) con chung là các cháu Nguyễn Văn T, sinh ngày: 21/5/1998, Nguyễn Thị Thanh T1, sinh ngày: 15/11/2004 và Nguyễn Thị Thanh T2, sinh ngày: 18/6/2006. Đối với cháu T đã trên 18 (mười tám) tuổi, có khả năng lao động, ông Th và bà M không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Đối với 02 (hai) cháu T1 và T2 thì cần căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình để giao lại cho ông Th tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi ly hôn vì hiện tại các cháu đang sống chung với ông Th, theo đúng như nguyện vọng của các cháu và phù hợp với yêu cầu, điều kiện hiện tại của ông Th. Tạm thời bà M không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì ông Th không có yêu cầu.

[4]. Về tài sản chung: bà M có đề nghị Tòa án xem xét chia tài sản chung; tuy nhiên bà M lại không làm đơn yêu cầu, không có cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh và cũng không nộp tiền tạm ứng án phí nên không có cơ sở để xem xét, giải quyết. Cần tách ra để giải quyết thành một vụ án khác khi các bên đương sự không tự thỏa thuận được và có yêu cầu.

[5]. Về nợ chung: ông Th và bà M đều xác định là không có nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: ông Th phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

[7]. Ý kiến phát biểu quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa phù hợp với nhận định trên nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào các điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, các Điều 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

+ Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Văn Th.

+ Về quan hệ hôn nhân: ông Nguyễn Văn Th được ly hôn bà Phạm Thị Ngọc M.

+ Về con chung: đối với cháu Nguyễn Văn T, sinh ngày: 21/5/1998 đã trên 18 (mười tám) tuổi và có khả năng lao động nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Giao 02 (hai) cháu Nguyễn Thị Thanh T1, sinh ngày: 15/11/2004 và Nguyễn Thị Thanh T2, sinh ngày: 18/6/2006 cho ông Nguyễn Văn Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Tạm thời bà Phạm Thị Ngọc M không phải cấp dưỡng nuôi con chung do ông Nguyễn Văn Th không có yêu cầu.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

+ Về tài sản chung: tách ra để giải quyết thành một vụ án khác khi các bên đương sự không tự thỏa thuận được và có yêu cầu.

+ Về nợ chung: không có nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

+ Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: ông Nguyễn Văn Th phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) (đã nộp tại Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 4501 ngày 28 tháng 3 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Biên Hòa).

+ Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ nhận được Bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày Bản án sơ thẩm được tống đạt hợp lệ


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 275/2019/HNGĐ-ST ngày 14/11/2019 về ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:275/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 14/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về