Bản án 274/2019/HS-ST ngày 30/12/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 274/2019/HS-ST NGÀY 30/12/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 30 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 272/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 290/2019/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Dư Trọng N, sinh năm 1989. Tại: B. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 11, đường Q, tổ 5, khu 5, thị trấn B, huyện B, tỉnh B; Tạm trú: Số 40/23, đường N, khu 11, phường C, thành phố T, tỉnh B; nghề nghiệp: Đầu bếp; Trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dư Trọng T và bà Huỳnh Kim T; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Đặng Thanh L, sinh năm 1977. Địa chỉ: Số 220/48/17/24, tổ 62, khu 7, phường P, thành phố T, tỉnh B. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng thời gian tháng 4/2014, do thường hay đi uống cà phê ở quán nên Dư Trọng N có gặp và quen biết với Đặng Thanh L, sinh năm 1977. Địa chỉ: Khu 7, phường P, thành phố T, tỉnh B làm nghề hớt tóc. Sau đó đến tháng 6/2014, giải bóng đá World Cup 2014 diễn ra nên L chủ động rủ N tham gia cá độ bóng đá thắng thua bằng tiền trực tiếp với L. Qua trò chuyện, L nói rõ cách chơi và cách tính thắng thua bằng tiền cho N nghe, cụ thể là trước khi có 01 trận bóng đá diễn ra thì L sẽ dùng số điện thoại 0969.904.0XX của L nhắn tin “kèo, tỷ lệ chấp” của trận bóng đá đó sang số điện thoại 0906.819.6XX của N để N xem và lựa chọn đội. Sau khi xem xong N muốn lựa chọn đội nào và đặt cược bao nhiêu tiền là tùy theo ý của N, chọn đội và đặt cược tiền xong N sẽ nhắn tin lại cho L thì L sẽ trả lời bằng tin nhắn là “OK” nghĩa là đã chấp nhận đặt cược của N. Tiếp đến, chờ kết quả cuối cùng của trận bóng đá mà N đã tham gia đặt cược để tính thắng thua bằng tiền. Vì vậy, N đồng ý tham gia chơi cá độ bóng đá thắng thua bằng tiền với L.

Ngày 29/6/2014 N sử dụng số điện thoại di động 0906.819.6XX của N nhắn tin vào số điện thoại di động 0969.904.0XX của L 02 lần để trực tiếp tham gia cá độ trận Hà Lan – Mexico với số tiền là 4.500.000đ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) Ngày 30/6/2014, N sử dụng số điện thoại di động 0906.819.6XX của N nhắn tin vào số điện thoại di động 0969.904.0XX của L 03 lần để trực tiếp tham gia cá độ trận Hà Lan – Mexico với số tiền là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) và trận Costa Rica – Hy Lạp với số tiền là 5.500.000đ (Năm triệu năm trăm nghìn đồng) Đến khoảng 08 giờ cùng ngày 30/6/2014, Nhân kiểm tra lại kết quả của 02 trận đấu trên thì biết mình thắng được số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng). Tuy nhiên, lúc đó N đi làm công trình ở tỉnh Đồng Nai nên chưa kịp gặp L để lấy tiền thắng cược cá độ bóng đá thì N nghe biết được L bị Công an thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương bắt giữ về hành vi cá độ bóng đá thắng thua bằng tiền nên N không liên lạc với L và bỏ trốn. Ngày 22/9/2014 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định khởi tố bị can đối với Dư Trọng N và ra Quyết định truy nã số 15 ngày 22/9/2014, ngày 27/9/2014 ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can đối với Dư Trọng N. Đến ngay2/9/2019, Dư Trọng N đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đầu thú và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Ngày 16/7/2015 Đặng Thanh L bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm về tội “Đánh bạc” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 171/2015/HSST ngày 16/7/2015.

Cáo trạng số 286/CT-VKSND -TP.TDM ngày 04/12/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Dư Trọng N về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Dư Trọng N đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 phạt tiền bị cáo Dư Trọng N từ 25.000.000 đến 30.000.000 đồng.

Về biện pháp tư pháp: Đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 171/2015/HSST ngày 16/7/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương nên không đề nghị xem xét giải quyết.

Bị cáo Dư Trọng N không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Dư Trọng N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản hỏi cung bị can, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào các ngày 29/6/2014 và 30/6/2014, Dư Trọng N đã có hành vi đánh bạc trái phép với Đặng Thanh L dưới hình thức cá độ đá banh thắng thua bằng tiền với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 11.500.000đ (Mười một triệu năm trăm nghìn đồng) nên hành vi mà bị cáo thực hiện đã hội đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 248 của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” là có căn cứ và đúng qui định của pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Về nhận thức bị cáo biết rõ các hình thức đánh bạc trái phép bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vì ham lợi, xem thường pháp luật nên bị cáo bất chấp hậu quả, cố ý thực hiện tội phạm. Hiện nay, tệ nạn đánh bạc trái phép vẫn còn diễn biến phức tạp trong cộng đồng dân cư; tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng; ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa của nhân dân và hạnh phúc của nhiều gia đình, đánh bạc cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, sau khi phạm tội bị cáo lại bỏ trốn gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra giải quyết vụ án nên để có tác dụng giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng chống tội phạm chung cần phải xử lý bị cáo hình phạt nghiêm để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.

[6] Đối chiếu với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Đại diện Viện Kiểm sát áp dụng khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị phạt tiền bị cáo Dư Trọng N từ 25.000.000 đến 30.000.000 đồng là chưa phù hợp. Bị cáo N thực hiện hành vi phạm tội năm 2014 và Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 37/2009/QH12 đang có hiệu lực thi hành qui định có lợi hơn cho người phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử sẽ áp dụng Khoản 1 Điều 248 của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 để xét xử và quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[7] Về vật chứng của vụ án: Đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 171/2015/HSST ngày 16/7/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 30 của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; Các Điều 136; 260 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Dư Trọng N phạm tội “Đánh bạc”.

1./ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dư Trọng N số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) 2./ Về án phí: Buộc bị cáo Dư Trọng N phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./


32
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 274/2019/HS-ST ngày 30/12/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:274/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Dầu Một - Bình Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 30/12/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về