Bản án 273/2017/HSST ngày 14/12/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 273/2017/HSST NGÀY 14/12/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong các ngày 11 và 14 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 272/2017/HSST ngày 14 tháng 11 năm 2017  theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 312/2017/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:

B V Th, sinh năm 1990 tại Cần Thơ; nơi cư trú: Ấp Phụng Lợi, thị trấn A, huyện Th, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông B V T, sinh năm 1970 và bà Ng Th L, sinh năm 1969; có vợ bà Ng Th T A, sinh năm 1992 và có 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 30 tháng 8 năm 2017 đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà L Th Tr V, sinh năm 1993; địa chỉ thường trú: Ấp Vĩnh Hội, xã Vĩnh Hội Đông, huyện An Phú, tỉnh An Giang, vắng mặt.

Bà Đ Th K Ph, sinh ngày 18 tháng 9 năm 1999; địa chỉ: Xã L, huyện Th, tỉnh An Giang, có mặt.

Ông Ng V T, sinh năm 1995; địa chỉ: Ấp Thượng, xã T , huyện H, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Ông Tr Q V, sinh năm 1998; địa chỉ thường trú: Chánh An, Mỹ Chánh, Phù Mỹ, Bình Định, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

B V Th, L Th Tr V và Đ Th K Ph là người nghiện ma túy đá. Th, V và Ph thường xuyên thuê phòng tại nhà nghỉ Tiamo thuộc khu phố Bình Thuận 2, phường Thuận Giao, thị xã Thuận An để sử dụng ma túy. Vào ngày 19/6/2017 Th đưa cho V số tiền 2.500.000 đồng để mua ma túy, sau đó V rủ Ph đi đến khu vực cầu vượt An Sương, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh gặp người đàn ông tên Q (không rõ nhân thân, địa chỉ) mua một gói ma túy về nhà nghỉ Tiamo giao cho Th. Tại đây, Th lấy một phần ma túy ra rồi cùng V, Ph và một người bạn tên Ng V T sử dụng tại phòng A4 nhà nghỉ Tiamo số ma túy còn lại Th cất giấu nhằm mục đích để sử dụng và chia lại cho các con nghiện khác, đến khoảng 11 giờ ngày 20/6/2017 Th chuyển qua phòng A 8 nhà nghỉ Tiamo để tiếp tục ở và sử dụng ma túy.

Vào khoảng 18 giờ ngày 20/6/2017 Công an thị xã Thuận An phối hợp với Công an phường Thuận Giao tiến hành kiểm tra nhà nghỉ Tiamo, qua kiểm tra phát hiện tại Phòng A8 có một bộ dụng cụ ma túy đá và các đối tượng Th, V, Ph, T lưu trú không đăng ký. Qua khám xét Cơ quan công an thu giữ 02 gói nylon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng trên người B V Th và 02 gói lylon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng bên trong bồn chứa nước (bồn cầu) nhà vệ sinh.

Qúa trình điều tra, Th khai nhận số ma túy bị cơ quan công an thu giữ trong phòng A8 nhà nghỉ Tiamo là của Th.

Tại kết luận giám định số 304/MT-PC54 ngày 26/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể gửi đến giám định có trọng lượng là 1,0439 gam (M1-1), 0,2298 gam (M1-2), 0,3025 gam (M2), đều có Methamphetamine.

Trọng lượng Methamphetamine trong 1,5762 gam mẫu (M1-1+M1-2+M2) là 1,0587 gam.

Bản cáo trạng số 292/QĐ-KSĐT ngày 13/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố bị cáo B V Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Th khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, không có ý kiến gì về nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 xử phạt bị cáo B V Th mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, bị cáo B V Th khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên toà và tại cơ quan điều tra đều thống nhất với nhau và phù hợp với lời khai của người làm chứng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Khoảng 18 giờ ngày 20/6/2017, tại Phòng A8 nhà nghỉ Tiamo thuộc khu phố Bình Thuận 2, phường Thuận Giao, thị xã Thuận An bị cáo B V Th có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thì bị Công an thị xã Thuận An bắt phạm tội quả tang và thu giữ cùng tang vật. Tại Bản kết luận giám định số 304/GĐ-PC54 ngày 26/6/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương xác định: Mẫu tinh thể gửi để giám định có chất Methamphetamine. Trọng lượng Methamphetamine trong 1,5762 gam mẫu là 1,0587 gam. Hành vi của bị cáo Th đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây ra sự nghiện ngập và mầm mống của các tệ nạn xã hội. Hiện nay tình hình mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy xảy ra khá phổ biến, gây tâm lý hoang mang và bất an của nhân dân. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả phạm tội đã thực hiện có xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điểm p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự.

Tại Điểm b Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Theo quy định tại Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm là nhẹ hơn khung hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 để xét xử bị cáo B V Th.

Lời đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An tại phiên tòa có căn cứ, đúng luật, phù hợp tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Đối với L Th Tr V và Đ Th K Ph vào ngày 19/6/2017 có hành vi mua giùm ma túy cho Th với số tiền 2.500.000 đồng. Số ma túy này sau khi mua về V và Ph đã đưa cho bị cáo Th, V và Ph không biết Th cất giấu ma túy ở đâu nên không có cơ sở xác định V và Ph là đồng phạm với bị cáo Th về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, V và Ph đều sử dụng ma túy nên đã đưa V đi cai nghiện bắt buộc và ra quyết định xử phạt hành chính đối với Ph (vì thời điểm này Ph chưa đủ 18 tuổi), là phù hợp.

[6] Đối với ông Ng V T có hành vi sử dụng ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An đã ra quyết định xử phạt hành chính, là phù hợp.

[7] Đối với ông Tr Q V là lễ tân của nhà nghỉ Tiamo đã nhận tiền cho bị cáo Th, nhưng không biết nguồn gốc số tiền đã nhận do bị cáo Th phạm tội mà có và cũng không biết hành vi cất giấu ma túy của bị cáo Th nên không có cơ sở xác định V là đồng phạm với bị cáo Th về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

[8] Đối với người tên Q là người đã bán ma túy cho V ở khu vực Cầu Vượt An Sương, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, do không xác định được nhân thân, địa chỉ nên chưa có cơ sở xử lý.

[9] Về xử lý vật chứng: 02 bì thư đã được niêm phong ghi ký hiệu vụ số 304/PC54 bên trong chứa Methamphetamine trọng lượng 0,7853 gam (M1-1), 0,1214 gam (M1-2), 0,1450 gam (M2) là mẫu vật hoàn lại sau giám định và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy cần tịch thu, tiêu huỷ.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều  46 của Bộ luật Hình sự; Điều 76; Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về án phí, lệ phí của Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo B V Th phạm tội “Tàng trữ  trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo B V Tha 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 8 năm 2017.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 02 bì thư đã được niêm phong ghi ký hiệu vụ số 304/PC54 bên trong chứa Methamphetamine trọng lượng 0,7853 gam (M1-1), 0,1214 gam (M1-2) , 0,1450 gam (M2) là mẫu vật hoàn lại sau giám định và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/11/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận An).

3. Về án phí: Buộc bị cáo B V Th phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.


75
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về