Bản án 27/2021/HS-PT ngày 18/03/2021 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK NÔNG

BẢN ÁN 27/2021/HS-PT NGÀY 18/03/2021 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY VÀ TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP VŨ KHÍ QUÂN DỤNG

Ngày 18 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đăk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 12/2021/TLPT-HS ngày 12 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Thành D do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 90/2021/HS-ST ngày 15/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song.

Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Thành D; sinh năm 1980 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: thôn 6, xã X, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn 12/12; con ông Nguyễn Duy D và bà Tạ Thị C; có vợ là Nguyễn Thị Ngọc L và 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2012; bị bắt tạm giữ từ ngày 11/8/2020 đến ngày 19/8/2020 chuyển sang biện pháp tạm giam.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong đầu năm 2020, Nguyễn Thành D đi từ thành phố B, tỉnh Đắk Lắk về xã X, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, khi đi đến đoạn đường Quốc lộ 14 thuộc thôn 10, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, D nhặt được 01 túi xách màu nâu bên trong có đựng 01 khẩu súng ngắn bằng kim loại, thân súng có khắc số 88539 và CAL 9mm, súng có hộp tiếp đạn nhưng không có đạn bên trong. D lấy khẩu súng cất vào người, vứt túi xách lại rồi đi về nhà giấu khẩu súng trong rẫy cà phê của D. Đến khoảng tháng 6 năm 2020, D lấy khẩu súng từ rẫy về nhà cất giấu trong phòng ngủ.

Cũng khoảng đầu năm 2020, D được 02 đối tượng tên Đ, C (chưa rõ nhân thân, lai lịch) cho 01 viên ma túy dạng nén màu hồng đen. D chưa sử dụng mà cất trong gói giấy bạc để trong áo khoác ở phòng ngủ. Ngày 09/8/2020, D gọi điện thoại cho Phạm Đức G, sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, hỏi mua ma túy thì G đồng ý. Khoảng 18 giờ ngày 09/8/2020, G đi đến nhà D tại thôn 6, xã X, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, đưa cho D 01 gói ni lông bên trong có 01 gói giấy bạc màu vàng chứa ma túy, D đưa cho G số tiền 1.000.000 đồng. Sau đó, D chia gói ma túy thành 02 gói nhỏ, cất 01 gói trong túi áo khoác màu đen trong phòng ngủ, gói còn lại D lấy một ít ra sử dụng rồi cất trong gói giấy bạc bỏ trong gói thuốc lá White House cất trong áo khoác và để trong phòng ngủ.

Vào lúc 14 giờ ngày 10/8/2020, lực lượng Công an huyện Đắk Song đã bắt quả tang đối tượng Phạm Đức G đang có hành vi bán trái phép chất ma túy. Quá trình đấu tranh, G khai nhận đã mua ma túy của Nguyễn Thành D về sử dụng và bán lại cho người khác. Sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Song đã tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Thành D, thu giữ: 02 gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng trong túi áo khoác màu đen trong phòng ngủ của D; 01 gói giấy lịch bọc 01 gói giấy bạc màu trắng chứa 01 viên nén màu hồng đen trong túi áo khoác màu đen trong phòng ngủ của D; số tiền 2.200.000 đồng trong ví để ở túi quần sau của D; số tiền 5.000.000 đồng trong két sắt phòng ngủ của D; 01 khẩu súng ngắn bằng kim loại, thân súng có khắc số 88539 và CAL 9mm, súng có hộp tiếp đạn nhưng không có đạn bên trong, ở dưới tấm nệm trên giường trong phòng ngủ; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280 màu đen, có sim thuê bao 03933309234 và 0974744177 trong túi quần trên người của D.

Tại bản kết luận giám định số 122/KLMT-PC09 ngày 14/8/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận: chất rắn màu trắng đựng trong 02 gói giấy màu vàng là ma túy, có tổng khối lượng là 1,1706 gam, là Hêrôin. Hoàn lại sau giám định còn 0,9118 gam; chất rắn dạng cục đựng trong 01 gói giấy bạc màu trắng là ma túy, có khối lượng mẫu là 0,1098 gam, là Methamphetamine. Hoàn lại sau giám định còn 0,0546 gam.

Tại bản kết luận giám định số 22/KLSĐ-PC09 ngày 14/8/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận: 01 khẩu súng ngắn bằng kim loại có số 88539 là vũ khí quân dụng, hiện khẩu súng vẫn hoạt động được.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 90/2020/HS-ST ngày 15-12-2020 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song đã quyết định: Tuyên bị cáo Nguyễn Thành D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành D 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành là 04 (Bốn) năm 03 (Ba) tháng tù.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 17/12/2020, bị cáo Nguyễn Thành D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận Viện kiểm sát truy tố và Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 và tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và không oan, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông sau khi phân tích các chứng cứ buộc tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Thành D, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo không bào chữa, tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thành D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng là 1,1706 gam Hêrôin, 0,1098 gam Methamphetamine và tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng là khẩu súng ngắn bằng kim loại có số 88539 và CAL 9mm, súng có hộp tiếp đạn nhưng không có đạn bên trong, ở dưới tấm nệm trên giường trong phòng ngủ của gia đình bị cáo. Do đó Tòa án nhân dân huyện Đắk Song xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 và tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thành D, Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và xử phạt bị cáo 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” là tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội do bị cáo gây ra. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không bổ sung thêm được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm [3]. Về án phí: do kháng cáo được không chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự

1. Kng chấp nhận kháng cáo bị cáo Nguyễn Thành D, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 90/2020/HS-ST ngày 15/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành D 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành là 04 (Bốn) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 11/8/2020).

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Thành D phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


47
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 27/2021/HS-PT ngày 18/03/2021 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng

Số hiệu:27/2021/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:18/03/2021
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về